Thủ thuật, Mẹo vặt

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tăng tốc độ truy cập mạng khi dùng Windows Vista


Theo mặc định, hệ điều hành Windows Vista thường giảm băng thông mạng khi người dùng sử dụng các tệp tin đa phương tiện (multimedia) như MP3 hoặc xem video.

itGatevn_2008041227_Vista.jpg

Sở dĩ có hiện tượng này là Vista được thiết kế nhằm đảm bảo CPU có thể xử lý tốt chương trình chạy các tệp tin trên. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng tệp tin multimedia khi đang truy cập mạng thì tốc độ đường kết nối sẽ bị giảm xuống đáng kể.

Theo tính toán của Microsoft, nếu hai tác vụ trên diễn ra đồng thời thì tốc độ truy cập mạng (ở chế độ mặc định) sẽ chỉ còn khoảng 10 gói tin/ms. Để khắc phục tình trạng này trong Windows Vista SP1, bạn khởi chạy trình biên soạn Registry Editor bằng cách nhập regedit vào ô Search trong menu Start hoặc trên cửa sổ lệnh, nhấn Enter và vào nhánh sau:

[HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows NT\CurrentVersion\Multimedia\SystemProfile]


Tại đây, bạn có thể thay đổi thông số “NetworkThrottlingIndexValue” từ 1 đến 70. Nếu muốn loại bỏ tính năng này, bạn chỉ cần nhập vào dòng lệnh FFFFFFFF. Sau khi hoàn thành các thao tác, bạn cần khởi động lại máy tính để thay đổi có hiệu lực.

H.A (theo TPO:-)

Mã:
 http://www.itgatevn.com.vn/?u=nd&scid=10&nid=18319
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Bổ sung phông chữ từ Microsoft vào Linux


Đôi khi một số file của Windows không đọc được trong Linux vì các font không tương thích. Bạn có thể cài các font của Microsoft vào trong máy Linux để đọc tài liệu một cách trực tiếp.

small_143785.jpg

Việc cài các font Microsoft giúp đọc được hầu hết các trang web thường được viết bằng font của Windows trên hệ điều hành Linux.

Trước tiên, bạn nên sao lưu lại folder “/etc/fonts”, để đề phòng khi cài đặt gặp vấn đề còn có thể phục hồi lại tình trạng ban đầu. Chạy lệnh “sudo apt-get install msttcorefonts”, rồi vào địa chỉ:
Mã:
 http://tinyurl.com/35wqox [B]hay[/B] http://tinyurl.com/2jajlj
để tải các file font chữ về máy.

Sau khi giải nén một trong hai file vừa tải về vào thư mục “/etc/fonts”, bạn khởi động lại máy.

Bây giờ, bạn có thể đọc được rất nhiều file văn bản, truy cập được vào nhiều trang web và đọc được chữ trên đó (trước kia bạn chỉ thấy toàn dấu chấm hỏi hay ô vuông).

[/Code] Theo TPO [/Code]
 

beck07

Well-known member
29/4/08
70
0
MUSVN Đồng
0
Points
0
khi nối 2 máy với nhau bằng cap mang thì phải đấu chéo dây chư!!!!!
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Những phím tắt vô giá trong Winwords

Thường ngày, bạn vẫn quen dùng chuột để thao tác trong Winwords nhưng giờ đây, việc sử dụng các tổ hợp phím nóng sẽ giúp bạn soạn thảo văn bản nhanh và hiệu quả hơn rất nhiều

Phím Chức năng

Ctrl+1 Giãn dòng đơn
Ctrl+2 Giãn dòng đôi
Ctrl+5 Giãn dòng 1,5
Ctrl+0 Tạo thêm độ giãn dòng đơn trước đoạn
F12 Lưu tài liệu với tên khác
F7 Kiểm tra lỗi chính tả tiếng Anh
F4 Lặp lại lệnh vừa làm
Ctrl+Shift+S Tạo Style (heading) -> Dùng mục lục tự động
Ctrl+Shift+F Thay đổi phông chữ
Ctrl+Shift+P Thay đổi cỡ chữ
Ctrl+D Mở hộp thoại định dạng font chữ
Ctrl+M Lùi đoạn văn bản vào 1 tab (mặc định 1,27cm)
Ctrl+Shift+M Lùi đoạn văn bản ra lề 1 tab
Ctrl+T Lùi những dòng không phải là dòng đầu của đoạn văn bản vào 1 tab
Ctrl+Shift+T Lùi những dòng không phải là dòng đầu của đoạn văn bản ra lề 1 tab
Ctrl+F Tìm kiếm ký tự
Ctrl+G (hoặc F5) Nhảy đến trang số
Ctrl+H Tìm kiếm và thay thế ký tự
Ctrl+K Tạo liên kết (link)
Ctrl+] Tăng 1 cỡ chữ
Ctrl+[ Giảm 1 cỡ chữ
Ctrl+Shift+> Tăng 2 cỡ chữ
Ctrl+Shift+< Giảm 2 cỡ chữ
Alt+Shift+S Bật/Tắt phân chia cửa sổ Window
Ctrl+Enter Ngắt trang
Start+D Chuyển ra màn hình Desktop
Start+E Mở cửa sổ Explorer, My computer
Ctrl+Alt+N Cửa sổ MS word ở dạng Normal
Ctrl+Alt+P Cửa sổ MS word ở dạng Print Layout
Ctrl+Alt+L Đánh số và ký tự tự động
Ctrl+Alt+F Đánh ghi chú (Footnotes) ở chân trang
Ctrl+Alt+D Đánh ghi chú ở ngay dưới dòng con trỏ ở đó
Ctrl+Shift+A Chuyển đổi chữ thường thành chữ hoa (với chữ tiếng Việt có dấu thì không nên chuyển)
Alt+F10 Phóng to màn hình (Zoom)
Alt+F5 Thu nhỏ màn hình
Alt+Print Screen Chụp hình hộp thoại hiển thị trên màn hình
Print Screen Chụp toàn bộ màn hình đang hiển thị.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=20&Cat_Sub_ID=1&news_id=45571
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Khởi động win với chế độ Safe mode mà không nhấn F8?

Có một bạn hỏi làm sao để reboot (khởi động) máy tính trong chế độ “Saft mode” mà không phải nhấn phím F8 trong quá trình khởi động máy tính. Sau đây HelloICT xin được chia sẽ đến các bạn cách thiết lập để máy tính có thể khởi động lại với chế độ “Safe mode” trong windows Vista.

1.jpg

Trong windows vào Start nhập msconfig nhấn Enter.

safemode_1.bmp

Cửa sổ mở ra chọn thẻ Boot.

safemode_2.bmp

Đánh dấu check vào ô Safe boot và click chọn Minimal.

Một khi nhấn OK máy tính sẽ hỏi bạn khởi động lại máy tính ngay để vào chế độ “Safe mode” nhấn Restart hoặc để sau nhấn Exit without restart.

safemode_3.bmp

Sau khi bạn khởi động lại máy tính tính sẽ được tự động chuyển sang chế độ “Safe mode”. Ở đây bạn có thể diệt virus, spyware… hoặc làm những điều bạn cần làm.

Tắt chế độ “Safe mode”

safemode_4.bmp

Để windows khởi động lại với chế độ bình thường. Bạn cũng làm tương tự và bỏ chọn ô Safe boot trong thẻ Boot của cửa sổ System Configuration.

Chúc bạn thành công!

Mã:
 Theo 3C.com,vn, helloict.com
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Những phím tắt “vô giá” trong Excel

Đôi lúc chuột máy tính của bạn gặp những vấn đề không mong muốn khi làm việc với Excel và việc “quẳng” nó đi nhiều khi lại là biện pháp hay nhất. Nếu gặp trường hợp như thế thì những phím tắt “vô giá” dưới đây thật sự cần thiết cho bạn.

Phím tắt Ý nghĩa

ESC Bỏ qua dữ liệu đang thay đổi
F4 hay Ctrl+Y Lặp lại thao tác vừa làm
Alt + Enter Bắt đầu dòng mới trong ô
Ctrl + Delete Xoá tất cả chữ trong một dòng
Ctrl + D Chép dữ liệu từ ô trên xuống ô dưới
Ctrl + R Chép dữ liệu từ bên trái qua phải
Shift + Enter Ghi dữ liệu vào ô và di chuyển lên trên trong vùng chọn
Tab Ghi dữ liệu vào ô vào di chuyển qua phải vùng chọn
Shift + Tab Ghi dữ liệu vào ô vào di chuyển qua trái vùng chọn
= Bắt đầu một công thức
F2 Hiệu chỉnh dữ liệu trong ô
Ctrl + F3 Đặt tên cho vùng chọn
F3 Dán một tên đã đặt trong công thức
F9 Cập nhật tính toán các Sheet trong Workbook đang mở
Shift + F9 Cập nhật tính toán trong sheet hiện hành
Alt + = Chèn công thức AutoSum
Ctrl + ; Cập nhật ngày tháng
Ctrl + Shift + : Nhập thời gian
Ctrl+K Chèn một Hyperlink
Ctrl + Shift + ” Chép giá trị của ô phía trên vào vị trí con trỏ của ô hiện hành
Ctrl + ’ Chép giá trị của ô phía trên vào vị trí con trỏ của ô hiện hành
Ctrl + A Hiển thị Formula Palette sau khi nhấp một tên hàm vào công thức
Ctrl + Shift + A Chèn dấu ( ) và các đối số của hàm sau khi nhập tên hàm vào công thức
Ctrl+1 Hiển thị lệnh Cell trong menu Format
Ctrl + Shift + ~ Định dạng số kiểu General
Ctrl + Shift + $ Định dạng số kiểu Curency với hai chữ số thập phân
Ctrl + Shift + % Định dạng số kiểu Percentage (không có chữ số thập phân)
Ctrl + Shift + ^ Định dạng số kiểu Exponential với hai chữ số thập phân
Ctrl + Shift + # Định dạng kiểu Data cho ngày, tháng, năm
Ctrl + Shift + ? Định dạng kiểu Numer với hai chữ số thập phân
Ctrl + Shift + & Thêm đường viền ngoài
Ctrl + Shift + - Bỏ đường viền
Ctrl + B Bật tắt chế độ đậm, không đậm
Ctrl + I Bật tắt chế độ nghiêng, không nghiêng
Ctrl + U Bật tắt chế độ gạch dưới
Ctrl + 5 Bật tắt chế độ gạch giữa không gạch giữa
Ctrl + 9 Ẩn dòng
Ctrl + Shift + ( Hiển thị dòng ẩn

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=20&Cat_Sub_ID=2&news_id=45626
 

nhện đen

Well-known member
12/4/08
236
0
Hành tinh khác
MUSVN Đồng
0
Points
0
Phân vùng ổ cứng mới, để phục hồi nhanh nhất

Chuyện phân vùng đĩa cứng bao giờ bạn cũng phảidự trù trước khi mua máy. Nếu không như vậy sau này bạn đã cài quá nhiều thứ sau một thời gian trong XP muốn tinh giản lại cũng rất khó
khăn.
Có rất nhiều bạn viết mail hay hỏi trên mạng là làm sao cứu hộ dữ liệu quí , không vào được XP, xài IE trục trặc, máy hay reboot, gửi mail đi không được..; chứng tỏ nhiều bạn ấy chưa hề biết, quan tâm đến chuyện cần phải sao lưu máy tính nhằm phòng hộ khi trục trặc máy tính bao giờ cả.

Thật ra, đối với người thường xuyên dùng máy tính thì sao lưu và phục hồi là chuyện phải biết trước tiên sau khi cài qua XP.

Nó giúp cho bạn đỡ tốn rất nhiều thời gian khi gặp bất cứ trục trặc do nguyên nhân nào: virus hay phần cứng. Cứ việc phục hồi lại, khỏi mắc công phải cài lại XP và các drivers phần cứng: Chỉ sau 2-3 phút là tất cả đều trở lại bình thường như cũ, dữ liệu quí đều bảo toàn.

Có điều muốn làm nhanh như vậy, bạn phải chuẩn bị sớm từ việc phân vùng đĩa cứng đến nơi sẽ dùng lưu dữ liệu quí ra sao trước khi quyết định sắm máy mới.
Giờ đã có Windows Vista dù bạn chưa muốn xài vì chưa quen hay quá rắc rối không như XP bạn cũng
nên chuẩn bị cho nó sẵn 1 phần vùng primary dự trữ ẩn( hidden ) dành sau này cài đến cũng có sẵn.,.

Phanvungocung.jpg


Vậy nếu bạn mua đĩa cứng rộng rãi từ 150GB -250GB trở lên, theo ý tôi bạn nên phân vùng ra làm 4 , thực hiện như sau:

1)
Nhờ người bán dùng Disk manager của Seagate( có trong Hiren boot CD 8.8) phân ra làm 4 phân vùng. 1 primary active 25GB dành cho cài XP và Vista; cái kế là logical: 15 GB và phần sau cùng còn lại của 150GB (trừ đi 40GB ). Tất cả đều format theo FAT 32 .

2)
Dùng Partition magic 805 ( cũng có trong Hiren boot ) resize( định kích thước lại ) cho ổ C từ 25GB còn là 10 GB( quá đủ cho cài XP ) , tạo ra thêm 1 phân vùng trống( unallocated ) có 15GB mới này, sẽ convert lại theo NTFS và đặt tên Vista, cũng thiết lập là primary( nhưng lại là ẩn:hidden ) dành để cài Windows Vista sau này.

3)
Cũng với Partition Magic 805 , đặt tên cho ổ D là PROGRAM dành để cái các phần mềm có kích thước lớn vào chục MB như Intervideo DVD 80, Nero 7751 .. chỉ ngoại trừ 2 cái là NAV 2006 và Office 2003 là phải cài chúng ở C.

Riêng ổ E sau cùng này sẽ có tên là BACKUP dành lưu mọi thứ như File Ghost sao lưu của XP hay Vista, sao lưu Program files của ổ D. ổ này còn dành để lưu của thư mục My documents, MAIL( thư từ ), cả thư mục XPPRO( 1bản XP CD được chép vào ổ cứng ) và mọi thứ khác.

4)
Khi đã cài XP ( dù là bởi người bán hay chính bạn ), bạn nên lưu ý là chỉ cài trong ổ C có XP và 2 cái NAV 2006 và Office 2003. Làm thế để có C khi cần back up ( sao lưu bằng Ghost 11 sẽ có kích thước nhỏ nhất chừng 1.1GB-1.3GB là cao. Khi cần phục hồi lại cho ổ C thời gian quá nhanh chỉ là từ 2-3 phút.

5)
Muốn cho ổ C có XP lúc nào cũng có kích thước vừa phải không quá lớn(sao lưu sẽ lâu ), bạn còn phải thực hiện thêm những bước kế tiếp sau:

a) Trên desktop trong XP , clíck nút phải vào My documents chọn move vào E rồi ấn vào apply.

Sở dĩ bạn phải đưa thư mục My Documenst vào ổ E là vì bạn sẽ ghost sao lưu thường xuyên cho cả 2 ổ C và ổ D.

ổ D cũng cần phải được ghost back up, dù ít thường xuyên bằng ổ C, là vì hiện nay có rất nhiều virus dạng W32.* chuyên tấn công các file exe nằm cả ở C và D nên bạn sao lưu 1 ổ C hoàn toàn chưa đủ dose để trị được mọi virus.

b)
Bạn cũng nên move ( di chuyển) mọi thư từ cũ và mới nhận được từ ổ C vào ổ E bằng cách vào ToolsoptionsOtherAutoarchive trong Microsoft Outlook. Trái lại với OE, bạn phải vào mục Tools
OptionsMaintenanceAutoarchive để move thư đi

Đối với các tư liệu quí nằm trong thư mục My documents , bạn nên có 1 đĩa cứng USB tự động sao lưu và cập nhật thêm bản nữa bằng Second copy 70.

c)
Nên bất hoạt ( disable ) system restore của XP bằng cách vào System properties( ấn nút phải vào My computer) chọn properties, rồi vào System Restore disable System restore on all drives.

Phần System Restore của XP chiếm rất nhiều chỗ quá đáng cho ổ C nhưng lại rất hay trục trặc thật không đáng có.

d)
Nên tắt luôn phần Hibernate của XP nếu không có nhu cầu thật sự ( do chiếm nhiều chỗ ) bằng cách ấn nút phải trên desktop chọn Properties rồi chọn Screen saver Power Hibernate, xoá nút kiểm enable hibernate,
ấn apply, OK .

e)
Nên xoá thư mục Driver cache trong Windows và cả 2 thư mục dll cache,prefect trong System 32 cũng đỡ tốn rất nhiều chỗ cho ổ C .

f)
Giờ đây, trước khi cài bất cứ phần mềm vào XP nên lưu ý phải chọn cài custom, để chỉnh lại thư mục default( mặc nhiên ) từ C qua D đã dành riêng thư mục Program files cho mọi chương trình hàng chục MB trở lên.

Để bớt chúng qua hết bên ổ D như vậy, ổ C khi cần back up sẽ nhỏ và phục hồi XP nhanh cực kỳ.

ổ D dù lâu hơn phải backup và chỉ cần phục hồi lại khi có virus nào thích xơi tái mọi file exe của ổ C, D khiên XP của bạn hoạt động bất thường.

6) Nên dùng một trong hai file là Ghost 32.exe, Ghost.exe ( version 11 ) để sao lưu cho ổ C và D là quá nhanh và gọn nhất.

Bạn cũng nên biết qua là nếu làm Ghost.exe trong DOS nhanh nhất ( 5 phút ) so với Ghost32.exe trong XP ( mất 12 phút ).

Do vậy bạn nên tạo thêm DOS thực cho XP, dành cứu hộ máy tính ( đọc lại báo cũ LBVMT ) chỉ mất 5 giây vào đến dùng Ghost. Nếu dùng đĩa Hiren boot CD 88 quá chậm qua nhiều bước đến khi chọn được vào đến ghost để sao lưu cho C ( phải mất gần 2 phút ) .

Trước khi sao lưu, bạn phải thận trọng phải biết rõ là XP đang hoàn toàn tốt không trục trặc vì lý do nào cả (như là NAV 2006 còn hạn dùng, shutdown vẫn nhanh hay vào ra IE, nhận mail tốt và phải không có bad link ở ổ C :

Nhận ra có bad link khá dễ trong khi đang ghost, bổng bạn chợt nhận 1 thông báo từ ghost là less size than expected. Bạn phải ngưng ngay việc làm backup, bắt đầu chạy NDD( Norton disk doctor ) trong DOS hay chkdsk /f trong Windows.

Chỉ có làm như thế, bạn mới có sẵn 2 bản ghost thật tốt cho ổ C và D có Program Files (dành khi bị virus tấn công) mới dành cứu hộ máy tính bạn thật hiệu quả nhất.

(theo xahoithongtin.com.vn)
 

nhện đen

Well-known member
12/4/08
236
0
Hành tinh khác
MUSVN Đồng
0
Points
0
bảo vệ dữ liệu cá nhân

Đặt mật mã cho dữ liệu :

Về cơ bản, cách thức sau sẽ đưa folder bạn cần bảo vệ vào 1 file khác với định dạng ZIP, là định dạng nén mà Windows có thể giải nén mà không cần đến sự trợ giúp của phần mềm nào khác. Sau khi đưa nội dung cần bảo vệ nén vào file ZIP, bạn sẽ tiếp tục đặt mật khẩu cho file đó.

Để tiến hành, bạn thực hiện theo các bước sau:
- Sau khi tạo ra folder protect để chứa file dantri, bạn click chuột phải vào Folder protect vừa tạo ra, chọn Send to -> Compressed (zipped) Folder.

protect-folder-1.jpg


- Sau khi thực hiện thao tác trên, một file định dạng Zip có cùng tên protect sẽ được tạo ra ngay cạnh đó. Bạn click đôi vào để mở nội dung của file Zip này. Bên trong file Zip sẽ có chứa folder Protect và cách file của nó. Bây giờ, tại cửa sổ file Zip, bạn chọn File -> Add a password để đặt mật khẩu truy cập

protect-folder-2.jpg


- Một hộp thoại yêu cầu bạn điền mật khẩu sẽ xuất hiện. Tại đây, bạn điền mật khẩu đã lựa chọn vào ô Password, và xác nhận nhận lại 1 lần nữa tại khung confirm password để xác nhận lại một lần nữa, và cuối cùng là nhấn OK để thiết lập mật khẩu cho file Zip.

protect-folder-3.jpg


- Bây giờ, file Zip của bạn đã được bảo vệ bởi mật khẩu. Nội dung bên trong file Zip (file zip chứa những gì, bao nhiêu file được chứa trong đó…) vẫn được người khác biết được, tuy nhiên, mỗi khi kích hoạt 1 file bất kỳ chứa trong zip thì sẽ xuất hiện 1 hộp thoại yêu cầu điền mật khẩu thì mới xem được nội dung những file chứa trong đó.

protect-folder-4.jpg


Sau khi đã đưa những dữ liệu cần bảo vệ vào trong file Zip, bạn có thể xóa đi những dữ liệu liên quan ở bên ngoài để bảo đảm tính an toàn cho dữ liệu của mình. Từ nay, những dữ liệu trên đã hoàn toàn được bảo vệ trước những cặp mắt tò mò.
 

nhện đen

Well-known member
12/4/08
236
0
Hành tinh khác
MUSVN Đồng
0
Points
0
Bảo vệ dữ liệu cá nhân (2)

Dấu hoàn toàn thư mục của bạn

Nếu cách thức bảo vệ dữ liệu bằng mật khẩu như trên vẫn chưa phải là một cách tối ưu để bảo vệ dữ liệu của bạn, thì cách thức sau đây có lẽ là một lựa chọn khác cho bạn. Thủ thuật sau đây sẽ làm thư mục chứa những dữ liệu quan trọng của bạn biến mất hoàn toàn trên máy tính mà không để lại một dấu vết, mặc dù … chúng vẫn còn nằm nguyên tại chỗ. Để làm cách này, bạn có thể thiết lập thuộc tính Hidden cho Folder, tuy nhiên nếu Windows kích hoạt tính năng hiển thị file ẩn thì cách thức này sẽ bị vô hiệu hóa. Thủ thuật sau đây sẽ giúp bạn giải quyết rắc rối đó.

- Đầu tiên, cũng như trên, bạn gom tất cả những dữ liệu cần bảo vệ vào trong cùng 1 folder.
- Tiếp theo, bạn click chuột phải vào folder đó, chọn Rename để đôi tên cho nó. Sau khi chọn Rename, bạn sẽ đặt tên cho folder này bằng cách nhấn phím Alt trên bàn phím và lần lượt nhất dãy số 0160 rồi thả phím Alt và nhấn Enter. Điều này sẽ giúp cho folder của bạn được đặt tên bằng 1 kí tự trắng

protect-folder-5.jpg


- Tiếp theo, bạn click chuột phải vào Folder vừa được đổi tên, chọn Properties.
- Cửa sổ Properties hiện ra, bạn chọn tab Customize và nhấn vào nút Change Icon… tại đây.

protect-folder-6.jpg


- Cửa sổ Change Icon Folder… hiện ra. Tại đây, bạn click chuột lên thanh kéo để di chuyển qua phải, tìm đến biểu tượng ngôi sao năm cánh nằm cạnh ổ khóa. Ở bên phải biểu tượng ổ khóa sẽ là một biểu tượng trống. Bạn click chọn biểu tượng này và chọn tiếp OK để đổi biểu tượng cho thư mục.

protect-folder-7.jpg


- Sau khi click Ok để chọn, quay trở lại nơi chứa folder ban đầu, bạn sẽ hòan toàn bất ngờ vì folder ban nãy của bạn đã biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên, bạn đừng lo, bởi vì thực ra folder này đang mang biểu tượng trống, và tên của nó cũng là kí tự trống, do đó bạn sẽ không nhìn thấy được sự hiện diện của nó. Vậy làm sao để biết được nó đang tồn tại ? Sẽ chẳng ai biết được điều đó, ngòai bạn. Để truy cập vào nó, bạn kéo rê chuột vào khoảng trắng mà bạn biết nó đang tồn tại, sẽ có một biểu tượng nhỏ của tên File để chứng minh cho biết rằng có 1 folder đang nằm ở đó.

protect-folder-8.jpg


- Sau khi đã xác định được vị trí của nó, bạn chỉ cần click chuột để mở ra và truy cập vào các nội dung file bên trong nó theo cách thông thường.

Thủ thuật trên xem chừng rất đơn giản, nhưng về tính hiệu quả thì nó không hề thua kém bất kỳ một phần mềm hỗ trợ nào, mà lại hoàn toàn đơn giản. Kết hợp với việc dấu sâu vào bên trong ổ cứng, dữ liệu của bạn có thể nói là đã được an toàn, mà cách tiến hành thì lại không quá phức tạp.


(Theo dantri)
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Cấu hình ISA Firewall hoạt động như DHCP Server

Trong một số hệ thống muốn sử dụng ISA làm tường lửa và hoạt động như là một DHCP Server cho toàn mạng. Chúng ta có thể cài đặt DHCP service trên ISA firewall và sau đó tạo Access Rules để cho phép ISA firewall cung cấp địa chỉ IP cho các host. Ở phần hướng dẫn này chúng tôi giả định rằng bạn đã xây dựng DHCP server và cấu hình hợp lý.

Đầu tiên chúng ta sẽ tạo access rule DHCP Request trên ISA Firewall thích hợp như sau:

1. Trên Microsoft Internet Security và Acceleration Server 2004 (hay 2006) management console, hãy mở Firewall Policy. Trong khung Task pane các bạn click tab Tasks sau đó click Create a New Access Rule.
2. Trên trang Welcome to New Access Rule Wizard hãy nhập tên cho access rule ví dụ DHCP Request và click Next.
3. Chọn tùy chọn Allow trên trang Rule Action và click Next.
4. Trên Protocols page hãy chọn Selected protocols option từ danh sách This rule applies to và click Add.
5. Khi hộp thoại Add Network Entities xuất hiện hãy click thư mục Infrastructure và kích đúp DHCP Request. Sau đó hãy click Close.
6. Click Next trên Protocols page.
7. Trên Access Rule Sources page hãy click Add.
8. Khi hộp thoại Add Network Entities mở ra hãy click thư mục Networks và kích đúp Internal. Sau đó click Close.
9. Click Next trên trang Access Rule Sources.
10. Trên trang Access Rule Destination hãy click Add.
11. Khi hộp thoại Add Network Entities xuất hiện hãy click thư mục Networks và kích đúp Local Host và click Close.
12. Click Next trên trang Access Rule Destination.
13. Click Next trên trang User Sets.
14. Click Finish trên trang Completing New Access Rule Wizard.
15. Click Apply để lưu và cập nhật firewall policy.
16. Click OK trên hộp thoại Apply New Configuration.

Bước tiếp theo hãy tạo DHCP Reply Access Rule:

1. Kích chuột phải vào DHCP Request rule, và click Copy.
2. Kích chuột phải vào DHCP Request rule, và click Paste.
3. Kích đúp trên DHCP Request (1) rule, và click Properties.
4. Trên General tab của DHCP Request (1) rule, đổi tên rule thành DHCP Reply trên Name text box.
5. Click Protocols tab. Click DHCP (request), và click Remove. Click Add. Trên hộp thoại Protocols, click Infrastructure folder, và kích đúp DHCP (reply). Click Close.
6. Click From tab. Click Internal, và click núp Remove. Click núp Add. Trong hộp thoại Add Network Entities, click Networks folder, và kích đúp Local Host. Click Close.
7. Click To tab. Click Local Host, và click Remove. Click Add. Trong hộp thoại Add Network Entities, click Networks folder, và kích đúp vào Internal. Click Close.
8. Click Apply, và click OK.
9. Click Apply để save và update firewall policy.
10. Click OK trong hộp thoại Apply New Configuratition.

Trên đây là những thao tác cần thiết để cho phép DHSP Service cài đặt trên ISA Server có thể cấp phát địa chỉ đến các host trên mạng.

Lưu ý: DHCP Server lúc này có thể cấp địa chỉ IP cho các VPN client nhưng không thể cài đặt DHCP Relay Agent trên ISA Firewall và cho phép các VPN client nhận các thông tin tùy chọn DHCP.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=8&Cat_Sub_ID=0&news_id=45656
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Kiểm tra sức khỏe của Windows Vista

(Dân trí) - Với Windows XP, để kiểm tra tính ổn định của hệ thống, bạn thường phải nhờ đến sự giúp đỡ của những phần mềm chuyên dụng. Nhưng với Windows Vista thì bạn hoàn toàn có thể dễ dàng kiểm tra sức khỏe của hệ thống bằng tính năng Reliability and Performance Monitor có sẵn.
Vista-051207.jpg

Như chúng ta đều đã biết, Windows Vista là “người thay thế” Windows XP. Với giao diện bóng bẩy cùng với những tính năng mới mẻ là những điểm nổi bật nhất có thể dễ thấy của Windows Vista. Tuy nhiên, một đặc điểm khác của Windows Vista mà nổi bật hơn hẳn so với Windows XP đó là tích hợp bên trong nó là rất nhiều những tiện ích khác nhau để kiểm tra và giải quyết những vấn đề rắc rối với hệ thống. Giờ đây, với Windows Vista, bạn không còn cần phải cài đặt thêm những phần mềm hay các tiện ích khác để giải quyết những trục trặc của hệ thống.



Và bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu đến bạn tiện ích Reliability and Performance Moniter tích hợp sẵn trong Windows Vista để có thể dễ dàng kiểm tra sức khỏe của hệ thống để từ đó có phương hướng khắc phục thích hợp. Để kích hoạt tính năng này, bạn làm theo các bước sau:

- Đầu tiên, bạn click Start. Tại Start Menu, bạn điền performance vào khung tìm kiếm. Sau đó, bạn click vào mục Performance Information and Tools ở trong danh sách kết quả tìm kiếm.

system_health1.jpg

- Một danh sách các tiện ích đã được tích hợp sẵn trong Windows Vista sẽ được hiện ra. Tại danh sách này, bạn tiếp tục click vào mục Generate a system health report.

system_health2.jpg

- Sau khi click vào tùy chọn trên, tiện ích Reliability and Performance Monitor sẽ được kích hoạt và tự động scan hệ thống của bạn. Mất một khoản thời gian để quá trình scan kết thúc và kết quả sẽ được thông báo ngay cho bạn.

system_health3.jpg

- Kết quả thông báo lỗi của hệ thống sẽ bao gồm những thông tin rất chi tiết về lỗi mà hệ thống mắc phải như triệu chứng, lí do… và kèm theo đó là cách thức để giải quyết và những đường link liên kết để giúp bạn có những thông tin bổ ích để giải quyết những lỗi mà hệ thống mắc phải.

system_health4.jpg

- Ngoài ra, bảng kết quả của quá trình kiểm tra cũng bao gồm nhiều phần khác nhau, tương ứng với những thông tin khác nhau sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều trong việc kiểm tra sức khỏe hệ thống, chẳng hạn như kết quả dự đóan (đối với những lỗi thông thường), những mục thiết lập phần mềm đã được cài đặt trên hệ thống, thiết lập phần cứng có trên hệ thống, thông tin về CPU và rất nhiều thông tin khác. Để xem xét về một thông tin mà bạn quan tâm trong bản kết quả này, bạn có thể click vào dấu mũi tên ở cuối các mục để mở ra bảng danh mục bên trong nó.



Với những thông tin mà tính năng Reliability and Performance Monitor cung cấp, hy vọng rằng bạn có thể hoàn toàn yên tâm hoặc “chữa trị” kịp thời những “bệnh” mà hệ thống mình mắc phải.



Phạm Thế Quang Huy

Mã:
 http://dantri.com.vn/cong-nghe/Kiem-tra-suc-khoe-cua-Windows-Vista/2008/5/233553.vip
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tăng tốc cho ổ cứng SATA


Nếu máy tính của bạn dùng ổ cứng SATA thì có thể sử dụng thủ thuật nhỏ sau đây để tăng hiệu suất của ổ cứng lên một mức cao hơn.

small_147999.jpg

Tuy nhiên, thủ thuật này chỉ áp dụng cho những PC có hệ thống UPS, hoặc máy tính xách tay, bởi nếu bị mất điện đột ngột mà không có năng lượng dự phòng thì phương pháp này rất dễ khiến cho dữ liệu bị tổn thương và nguy cơ mất dữ liệu trong ổ cứng cao hơn.

Đầu tiên nhấn vào nút Start, tiếp tới là Control Panel, rồi đến Device Manager. Trong mục ổ cứng (Disk drives), bạn nhấn chuột phải vào ổ SATA rồi chọn Properties. Trong thẻ Policies, bạn chọn "Enable advanced performance". Nhấn OK và đóng cửa sổ Device Manager.

Văn Hân - (PCW)

Mã:
 http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=131106&CatId=33
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Thủ thuật download với IDM


Phần mềm hỗ trợ download IDM đã không còn xa lạ với mọi người; nó giúp bạn có thể download nhanh hơn.

Sau khi cài IDM vào máy, lúc bạn click vào link download, thông thường chương trình IDM sẽ tự động download cho bạn. Song cũng có trường hợp, bạn click vào link mà IDM không chịu download mà hệ thống lại sử dụng trình download của windows.

2008-03-03_185230.png

Khi đó muốn download với IDM, bạn có thể copy link cần download và Add URL của IDM. Với cách này thì trong những lần download sau, nếu gặp những file tương tự bạn phải Add URL lại.

2008-03-03_203440.png

Nếu không muốn làm nhiều lần như trên bạn làm như sau: Mở IDM, chọn Download >> Options như hình sau :

2008-03-03_204709.png

Bạn chọn tab File types, trong khung Automatically start downloading the following file types add vào định dạng của file bạn muốn download. Như vậy thì trong những lần sau, khi gặp những file dạng này, IDM sẽ tự động down cho bạn khi bạn click vào link download.

2008-03-03_205923.png

Chúc bạn thành công :wink:!

Mã:
 http://www.blogthuthuat.com/?p=889
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Cài đặt để Gmail gửi thư mặc định cho Firefox 3

(Dân trí) - Người dùng webmail thường xuyên hầu như không có nhu cầu sử dụng Outlook Express trên Windows và các phần mềm tương tự. Bài viết sau sẽ giúp bạn đặt gmail làm chương trình gửi thư mặc định cho Firefox 3 thay cho OutlookExpress nặng nề chậm chạp.

gmail_150708.jpg

Với những ai đang sử dụng phiên bản Firefox 3.0, hoặc có ý định dùng thử, có thể tận dụng chức năng mới của trình duyệt này, cho phép bạn đặt Gmail làm mặc định cho tất cả mọi liên kết thư điện tử - có chứa “mailto:” trong đó. Nếu bạn không có chương trình email mặc định đã được cài đặt, khi click vào những liên kết này thường sẽ khởi động một chương trình cài đặt thư điện tử ngoài desktop, hoặc mở một vài chương trình thư điện tử mà thực ra bạn không sử dụng tới bao giờ.


Bây giờ bạn có thể cấu hình cho Firefox để khởi động Gmail khi click vào một địa chỉ thư điện tử và tránh được những phức tạp kể trên.



1) Mở Gmail và đăng nhập.


2) Khi đã vào Gmail, copy và paste đoạn mã sau vào thanh địa chỉ của trình duyệt và nhấn enter.


javascript:window.navigator.registerProtocolHandler("mailto","https://
mail.google.com/mail/?extsrc=mailto&url=%s","Gmail")

Những người sử dụng bộ phần mềm miễn phí Google Apps có thể dùng đoạn mã này (nhưng phải thay thế yourdomain.com với địa chỉ của bạn ở Google Apps)

javascript:window.navigator.registerProtocolHandler("mailto","https://
mail.google.com/a/yourdomain.com/mail/?extsrc=mailto&url=%s","Gmail")

3) Click vào “Add Application” khi được thông báo. Bạn đã thêm Gmail vào danh sách các chương trình thư điện tử của trình duyệt.


gmai2_150708.jpg

Trong trường hợp không có gì xảy ra khi gõ đoạn mã, kiểm tra lại xem đã copy đoạn mã đúng chưa. Nếu vẫn không được, có thể cài đặt đã bị thay đổi. Hãy đặt lại chế độ mặc định bằng cách gõ about:config vào thanh địa chỉ trình duyệt và đảm bảo rằng network.protocol-handler.external.mailto được mặc định ở: true


4) Để đặt Gmail là mặc định, click vào đây và bạn sẽ được thông báo với những chương trình thư điện tử có sẵn. Với việc chọn Gmail và tick vào “Remember my choice for mailto links” bạn sẽ không phải khai báo với trình duyệt lần tới nữa. (không cần phải gửi thư sau khi click vào liên kết đó)

Mã:
 http://dantri.com.vn/cong-nghe/Cai-dat-de-Gmail-gui-thu-mac-dinh-cho-Firefox-3/2008/7/241456.vip
 

nosper

Well-known member
3/8/08
59
0
33
Đà Nẵng - Sân Bay
dtvt.org
MUSVN Đồng
0
Points
0
Cách lấy link download trực tiếp từ youtube !

Vào trang web sau đây :
http_keepvid.com/
paste link bạn có từ trang youtube vào khung trắng, sau dó chỿn youtube ở bên cạnh. click DOWNLOAD. Lấy link trực tiếp ở dòng "download link" ở dưới !
Dùng cách này bạn có thể lấy link down từ nhiỿu trang khác nữa! Chuc thành công!


Ngoài ra thì còn có các cách mà bản thân đã từng làm:p
ví dụ như các bạn còn có thể ghé thăm trang
http_video.qooqle.jp/dl
và paste link vào và bấm get url download là có thể dùng IDM mà down vỿ xem ...~~~~> So kool


VÀ cúi cùng đơn giản nhất là sài IDM. bỏ vào chỗ file type: >FLV..down vô tư. khỏi tốn dung lượng mb vào các trang wweb :D

Tiết kiện vẫn hơn cả!


thân all!
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
5 thủ thuật giải phóng dung lượng ổ cứng




(Dân trí)- Ổ cứng ngày càng có nhiều dung lượng lớn nhưng không phải ai cũng có điều kiện sắm 1 ổ đĩa như vậy. Nếu chỉ có 1 ổ cứng dung lượng khiêm tốn nhưng lại muốn lưu nhiều dữ liệu thì với những thủ thuật sau, bạn sẽ có thêm nhiều khoảng trống trên ổ đĩa.

HHD-060808.jpg

Giải phóng dung lượng để lưu trữ được nhiều dữ liệu hơn.

1. Thiết lập dung lượng sử dụng của Recycle Bin (Thùng rác)

Thùng rác có lẽ là phần “thừa” nhất trong Windows. Một khi bạn đã quyết định xóa đi 1 file thì hẳn bạn sẽ xóa chúng khỏi máy tính thay vì vứt chúng vào thùng rác. Do đó, nếu bạn là người không có thói quen sử dụng thùng rác của Windows, bạn có thể thiết lập lại dung lượng mà hệ thống dùng cho thùng rác để dung lượng đó phục vụ cho những lưu trữ có ích hơn. Thông thường, thùng rác sử dụng 10% dung lượng của mỗi phân vùng ổ cứng để làm dung lượng lưu trữ các file đã xóa. Điều này nghĩa là nếu bạn có 1 ổ cứng 10GB thì bạn đã mất 1GB cho thùng rác, quả là 1 con số không nhỏ chút nào. Do vậy, bạn có thể thiết lập lại dung lượng này để tiết kiệm hơn dung lượng lưu trữ của ổ cứng.



Để làm được điều này, đầu tiên, bạn click chuột phải vào biểu tượng Recycle Bindesktop, chọn Properties. Cửa sổ Recycle Bin Properties sẽ được hiện ra gồm tab Global và các tab chứa tên các phân vùng ổ cứng. Tại tab Global, bạn sẽ thấy mặc định ở tùy chọn Use one Setting for all Drives và 1 thanh chia tỉ lệ với mức tỉ lệ 10%. Bây giờ, bạn kéo thanh tỉ lệ đó xuống còn khỏan 1% để thiết lập dung lượng mà các phân vùng sẽ sử dụng cho thùng rác.

free-hdd-1.jpg

Cuối cùng, bạn click OK để xác nhận thiết lập vừa tiến hành. Bây giờ, ổ cứng của bạn sẽ không mất quá nhiều dung lượng chỉ để lưu trữ những file rác không cần dùng đến.



2. Thiết lập dung lượng lưu trữ System Points



Dân Trí đã từng giới thiệu đến bạn System Restore, là tính năng giúp bạn khôi phục lại tình trạng của Windows trong trường hợp hệ thống gặp trục trặc nào đó. System Restore khôi phục được là nhờ vào các Restore Points chứa các mốc trạng thái của Windows để dễ dàng khôi phục. Cũng như Recycble Bin, Windows mặc định sử dụng đến 12% tổng dung lượng của mỗi phân vùng ổ cứng để lưu trữ các Restore Points. Nếu bạn cảm thấy rằng từng đó dung lượng của ổ cứng là quá lớn và không thực sư cần thiết, bạn có thể thiết lập lại dung lượng này.



- Đầu tiên, bạn click chuột phải vào biểu tượng My Computer và chọn Properties. Cửa sổ System Properties hiện ra, tại đây, bạn click vào tab System Restore.



- Tại tab System Restore, bạn sẽ thấy danh sách các phân vùng trên ổ cứng của bạn. Để thiết lập dung lượng sử dụng cho việc lưu trữ các Restore Points, bạn chọn lần lượt từng phân vùng có trong danh sách và click vào Settings.

free-hdd-2.jpg

- Cửa sổ Drive Settings hiện ra với 1 thanh chia độ mà độ cực đại là 12% tổng dung lượng của phân vùng ổ cứng. Bạn thiết lập lại để chỉ sử dụng khoản 2 - 5% tổng dung lượng phân vùng ổ cứng cho việc lưu trữ các Restore Points. Tuy nhiên, một đặc điểm của System Restore đó là chỉ khôi phục lại Windows và các tùy chọn của Windows mà không khôi phục lại dữ liệu chứa trên ổ cứng, do đó, System Restore chỉ có tác dụng đối với phân vùng cài đặt Windows (thông thường là phân vùng C: ), do đó, đối với các phân vùng còn lại, bạn nên tắt tính năng System Restore để không phải phí dung lượng lưu trữ 1 cách vô ích. Để tắt tính năng System Restore đối với các phân vùng không cài đặt Windows, tại cửa sổ Drive Settings của các phân vùng không cài đặt Windows, bạn đánh dấu vào tùy chọn Turn off System Restore on this Driver và click OK.

free-hdd-3.jpg


3. Tắt chức năng ngủ đông - Hibernation



Nếu bạn là người thường xuyên sử dụng máy tính trong những lúc tạm ngưng sử dụng, bạn không muốn phải shutdown hệ thống mà chỉ muốn ngắt điện của hệ thống để vừa tiết kiệm điện mà lại có thể trở lại sử dụng hệ thống nhanh chóng thì có lẽ bạn không còn xa lạ gì với chức năng Hibernation. Chức năng Hibernation hay còn gọi là chức năng ngủ đông là chức năng cho phép bạn ngắt điện của toàn hệ thống nhưng hệ thống vẫn được treo ở tình trạng “ngủ đông”, các tiến trình đang hoạt động vẫn được giữ nguyên mà không bị kết thúc như khi shutdown hệ thống.



Tính năng này thực sự tiện dụng, nhưng ngược lại, để sử dụng tính năng này, hệ thống sẽ phải tạo ra 1 file hiberfil có dung lượng bằng với dung lượng bộ nhớ RAM trên hệ thống trên phân vùng cài đặt Windows. Chẳng hạn máy tính của bạn sử dụng 1GB dung lượng RAM thì khi bạn kích hoạt tính năng Hibernation thì đồng thời sẽ tạo ra file hiberfil có dung lượng 1GB, dung lượng không hề nhỏ 1 tí nào. Tuy nhiên, khi bạn gỡ bỏ tính năng này thì file hiberfil sẽ tự động xóa và bạn sẽ lại có 1 dung lượng trống đáng kể.



Để tắt tính năng Hibernation, bạn thực hiện theo các bước sau:

- Đầu tiên, bạn click Start, chọn Control Panel. Tại cửa sổ Control Panel, bạn click vào Power Options. (Trong trường hợp cửa sổ Control Panel của bạn đang ở chế độ hiện thị Category View thì bạn click vào Switch to Classic View.

- Cửa sổ Power Options Properties hiện ra, tại đây, bạn click chọn tab Hibernater rồi click bỏ tùy chọn Enalbe Hibernation rồi click OK để thiết lập tùy chọn.


free-hdd-4.jpg

4. Xóa và thiết lập dung lượng lưu trữ file lưu tạm trong quá trình lướt Web bằng Internet Explorer (IE)



Trong quá trình lướt web, 1 khi bạn ghé thăm 1 trang web mới nào đó, những hình ảnh và dữ liệu của trang web đó sẽ được lưu tạm vào ổ cứng của bạn, để lần sau bạn ghé thăm sẽ tiết kiệm được thời gian truy cập và load những hình ảnh và dữ liệu đó. Tuy nhiên đồng thời với việc lưu tạm những file này thì dung lượng lưu trữ ổ cứng của bạn cũng sẽ bị tăng thêm. Do vậy, sau 1 thời gian lướt web, bạn nên tiến hành xóa đi những file tạm này để tiết kiệm dung lượng của ổ cứng.

- Đầu tiên, tại cửa sổ IE, bạn click vào Tools, chọn Internet Options

free-hdd-5.jpg

- Cửa sổ Internet Options hiện ra, trên tab General, tại mục Browsing History, bạn click vào Delete để xóa đi toàn bộ những file tạm đang được lưu trên ổ cứng của bạn.

free-hdd-6.jpg

Tương tự như System Restore hay Recycle Bin, bạn cũng có thể thiết lập dung lượng tối đa trên ổ cứng để lưu trữ những file tạm thời này. Tại mục Browsing History ở trên, bạn click vào Settings để thiết lập dung lượng cần thiết cho việc lưu trữ những file này. Tại mục Disk Space to use, bạn nên thiết lập khoản 25MB để lưu trữ file tạm là đủ. Cuối cùng bạn click OK để xác nhận thiết lập.

free-hdd-7.jpg


5. Sử dụng các phần mềm tìm kiếm và xử lí file trùng lặp



Trong quá trình sử dụng máy tính để lưu trữ dữ liệu, hẳn bạn sẽ gặp trường hợp không ít file dù khác nhau về hình thức bề như tên file, định dạng file… nhưng nội dung bên trong chúng lại hoàn toàn giống nhau. Do vậy, xóa bớt đi những file có nội dung giống nhau và chỉ giữ lại 1 file duy nhất cũng là 1 cách tiết kiệm dung lượng ổ cứng của bạn.



Để tự tay tìm kiếm và kiểm tra từng file 1 trong cả ngàn file khác nhau trên ổ cứng thì quả là 1 việc bất khả thi. Do vậy bạn có thể nhờ đến sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng mà một trong số đó là Search Duplicate Files, tiện ích đã được Dân Trí giới thiệu đến bạn. Với Search Duplicate Files, công việc tìm kiếm và xử lí các file có nội dung trùng lặp của bạn sẽ được nhanh chóng và dễ dàng hơn rất nhiều.

free-hdd-8.jpg

Lời kết



Với những thủ thuật tưởng đơn giản nhưng lại rất hiệu quả, hẳn bạn sẽ chưa phải vội để sắm thêm cho mình 1 chiếc ổ cứng mới với dung lượng lớn hơn.



Phạm Thế Quang Huy


Mã:
 http://dantri.com.vn/cong-nghe/5-thu-thuat-giai-phong-dung-luong-o-cung/2008/8/244867.vip
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Thiết lập để Windows XP tự chống phân mảnh đĩa


Chống phân mảnh HDD hẳn là việc quen thuộc với người thường dùng máy vi tính. Để giúp cho công việc này thực hiệnthường xuyên và định kì hơn, Windows XP đã cung cấp sẵn cho bạn 1 tiện ích giúp dễ dàng “lên lịch” chống phân mảnh.

defrag_070808.jpg

Sau một thời gian dài sử dụng máy tính, ổ cứng của bạn sẽ xảy ra hiện tương phân mảnh ổ đĩa. Hiểu 1 cách đơn giản là các file sau khi được truy cập sẽ được lưu trên những vào những vị trí khác nhau của các sector trên ổ cứng, tạo nên những khoản trống trên ổ cứng của bạn, khiến cho việc truy cập các file trên ổ cứng sẽ bị chậm đi. Do vậy, thực hiện việc chống phân mảnh (Defragment) sẽ giúp giảm thiểu các khoản trống trên ổ cứng, giảm bớt được tình trạng ì ạch và tăng thêm tốc độ của ổ cứng.



Hệ điều hành Windows cũng có cung cấp cho người sử dụng tiện ích riêng để thực hiện công việc chống phân mảnh ổ đĩa. Tuy nhiên, làm sao biết được lúc nào thì nên thực hiện công việc chống phân mảnh? Và làm sao ghi nhớ để luôn thực hiện công việc này 1 cách thường xuyên, để ổ đĩa không bị phân mảnh quá nhiền? Để đơn giản hơn, chúng ta có thể thiết lập để Windows có thể tự tiến hành công việc này 1 cách định kỳ theo từng tháng, từng tuần hoặc thậm chí là từng ngày. Để làm được điều này, bạn thực hiện theo các bước sau:

- Đầu tiên, bạn click vào Start, chọn Control Panel để mở cửa sổ Control Panel.

- Cửa sổ Control Panel hiện ra. Tại đây, nếu Control Panel đang ở chế độ hiển thị Classic View, bạn click vào Scheduled Tasks. Ngược lại, nếu Control Panel của bạn đang được hiển thị dưới chế độ Category View thì bạn click vào Performance and Maintenance và click tiếp vào Scheduled Tasks. Sau đó, bạn tiếp tục chọn Add Scheduled Task.

- Sau khi chọn Add Scheduled Task, cửa sổ Scheduled Task Winzard sẽ được hiện ra, cho phép bạn bắt đầu thiết lập quá trình chống phân mảnh tự động. Bạn click vào Next để bắt đầu quá trình

Autodefrag1_070808.JPG

Tại bước tiếp theo, bạn click vào Browse rồi tiếp tục chọn đến theo đường dẫn: C:\Windows\system32. Tại đây, bạn chọn đến file mang tên dfrg hoặc file defrag.exe rồi click Open.

Autodefrag2_070808.JPG

Tại cửa sổ tiếp theo, quá trình sẽ cho phép bạn đặt tên cho nhiệm vụ vừa được tạo ra, và thiết lập khoản thời gian định kì để thực hiện nhiệm vụ này (nhiệm vụ cụ thể ở đây là tiến hành chống phân mảnh đĩa). Bạn có thể thiết lập để Windows tự động tiến hành chống phân mảnh đĩa theo từng ngày (Daily), từng tuần (Weekly), từng tháng (Monthly), hay vào 1 thời điểm duy nhất (One time Only), khi hệ thống bắt đầu (When my computer Starts) hay vào lúc bạn đăng nhập vào hệ thống (When I log on). Thông thường, quá trình phân mảnh đĩa chỉ diễn ra sau một thời gian sử dụng máy tính khá dài, do đó, bạn nên thiết lập để Windows tự động chống phân mảnh đĩa theo từng tháng (Monthly) để đảm bảo quá trình chống phân mảnh đĩa hoạt động được hiệu quả. Sau khi đặt tên cho nhiệm vụ và thiết lập thời gian để thực thi nhiệm vụ, bạn click Next để sang bước tiếp theo.

Autodefrag3_070808.JPG

- Tại bước tiếp theo, quá trình sẽ cho phép bạn thiết lập khoản thời gian cụ thể để thực hiện công việc chống phân mảnh đĩa. Chẳng hạn như bạn phải thiết ngày, giờ và phút cụ thể trong tháng để chương trình có thể thực thi đúng vaò thời điểm mà bạn thiết lập. Sau khi thiết lập xong khoản thời gian thích hợp, bạn click Next để có thể sang bước tiếp theo.

Autodefrag4_070808.JPG

- Tại bước cuối cùng, quá trình sẽ yêu cầu bạn điền thông tin đăng nhập của tài khoản sử dụng để có thể thực hiện công việc chống phân mảnh. Trong trường hợp bạn chỉ sử dụng duy nhất 1 tài khỏan trên máy tính của mình, bạn có thể bỏ qua bước này và nhấn Next, và cuối cùng click vào Finish để kết thúc quá trình thiết lập.



- Sau khi quá trình thiết lập kết thúc, bạn quay lại cửa sổ Scheduled Tasks đã được mở trước đó, sẽ thấy trong danh sách các nhiệm vụ tự thực hiện có thêm 1 nhiệm vụ mới mà bạn vừa tạo ra (nhiệm vụ này sẽ mang tên do chính bạn đặt trong quá trình thiết lập). Bây giờ, bạn click chuột phải vào nhiệm vụ mới mà bạn vừa tạo, chọn Properties. Một cửa sổ mới sẽ được mở ra, tại đây, bạn đánh dấu vào tùy chọn Run Only if Logged on để đảm bảo rằng quá trình chống phân mảnh tự động chỉ có thể thực hiện sau khi hệ thống đã được khởi động. Bạn click OK để đóng cửa sổ này.

Autodefrag2_070808.JPG

Như vậy là bạn đã hoàn thành các bước để thiết lập cho Windows có thể tự động thực hiện quá trình chống phân mảnh 1 cách định kỳ vào một mốc thời gian mà bạn đã định trước. Việc này sẽ giúp cho ổ cứng của bạn được chống phân mảnh 1 cách thường xuyên, giúp cho ổ cứng không bị rơi vào tình trạng phân mảnh quá nặng, ảnh hưởng đến tốc độ truy cập của ổ cứng.



Phạm Thế Quang Huy

Mã:
 http://dantri.com.vn/cong-nghe/Thiet-lap-de-Windows-XP-tu-chong-phan-manh-dia/2008/8/245358.vip
 

Mr Rang 79

☼Dân OC☼
26/5/08
1,558
0
Cái Lò Gạch Cũ
360.yahoo.com
MUSVN Đồng
0
Points
0
Ép Xung (Overclocking) - dành cho những ai yêu thích phần cứng

Overclock - là một kỹ thuật ép xung hệ thống máy tính để gia tăng tốc độ làm việc của hệ thống máy tính gồm CPU, GPU, bộ nhớ, PCI, AGP... Ở một khía cạnh nào đó, có thể thể gia tăng tốc độ và khả năng làm việc của hệ thống đang có mà không cần phải tốn tiền đầu tư để nâng cấp.

Một overclocker đang trình diễn việc overclock bằng nitơ hoá lỏng​
Các thiết bị có thể ép xung/tăng tốc

Các thiết bị phần cứng có thể thay đổi tính năng mặc định có thể liệt kê dưới đây:

CPU

CPU là thành phần chính đầu tiên cho việc ép xung hệ thống. Đây là cách ép xung rất cơ bản.
Ép xung CPU bao gồm hai hình thức: tăng hệ số nhân và tăng FSB.

RAM

Ép xung với RAM được thực hiện làm tăng hiệu năng của RAM, bao gồm: tăng bus, hạ các thông số của RAM.

Bo mạch đồ hoạ

Tăng tốc bo mạch đồ hoạ giúp cho máy tính xử lý các vấn đề liên quan đến đồ hoạ được tốt hơn.
Ép xung bo mạch đồ hoạ gồm các hình thức: Thay đổi bus, xung nhịp, thay đổi xung nhịp của bộ nhớ trên bo mạch đồ hoạ

Các linh kiện, thiết bị khác

Các linh kiện khác trong máy tính thì tuỳ theo các khả năng của chúng mà có thể được làm tăng tính năng của chúng, thường là việc thay đổi firmware các thiết bị này có thể cải thiện thêm một chút hiệu năng từ chúng, làm thay đổi thiết kế để tăng hiệu năng hoặc trợ giúp các phương thức ép xung khác.
Các thiết bị này có thể là: Các ổ đĩa quang, nguồn máy tính, vỏ máy tính.

Các phương thức ép xung


Ép xung thông qua phần cứng

Thông thường, việc overclock này được làm bằng cách điều chỉnh jumper trên mainboard hay chỉnh thông số trong CMOS. Và người dùng chỉ overclock từng mức một, kèm theo các biện pháp giải nhiệt hiệu quả cho CPU, cho máy tính cũng như theo dõi chặt chẽ nếu máy tính hoạt động không ổn định hay quá nóng, họ sẽ trả lại tốc độ xung như cũ.

Ép xung bằng phần mềm

Công nghệ ép xung ngày nay được các nhà sản xuất phần cứng - đặc biệt là các nhà sản xuất bo mạch chủ tạo mọi điều kiện cho sự ép xung một cách thuận tiện nhất. Mặc dù không can thiệp sâu vào phần cứng bằng các thiết đặt trong BIOS, nhưng các nhà sản xuất phần cứng đã viết các phần mềm cho phép ép xung trực tiếp ngay trong hệ điều hành. Các phương thức ép xung bằng phần mềm cũng có thể tiến hành theo từng nấc xung nhịp để có thể tìm kiếm sự ổn định nhất trong các trạng thái đạt được.
Ép xung bằng phần mềm chỉ là các bước thực hiện sẵn theo một lộ trình thiết đặt theo như kinh nghiệm của những người sản xuất phần cứng hoặc một số overclocker có khả năng lập trình tốt viết ra. Bởi vì người viết phần mềm không hiểu được cấu hình, chất lượng các thiết bị của những người sử dụng nên không thể có một sự lựa chọn tự động nào phù hợp. Do vậy phần mềm không phải phương thức ép xung chính và hiệu quả.

Ép xung từ nhà sản xuất

Thông thường các nhà sản xuất phần cứng không bảo hành cho các sản phẩm của họ bị hư hỏng do sự ép xung do người sử dụng, nhưng một số nhà sản xuất thiết bị đã ép xung sẵn cho các sản phẩm của họ trước khi bán ra thị trường nhằm tăng hiệu năng của sản phẩm.
Thông thường nhất của việc ép xung sẵn các sản phẩm là các bo mạch đồ hoạRAM. Các sản phẩm đã được ép xung thường chỉ được những người sử dụng thông thường chấp nhận, với các overclocker thường không thích điều này bởi họ không còn có thể ép xung nên được nhiều nữa.
  • Đối với bo mạch đồ hoạ: Tăng xung nhịp của GPU và RAM.
  • Đối với RAM: Thiết kế để có thể tăng xung nhịp khi hoạt động. Ví dụ: thông thường SD-DDR2 quy định theo chuẩn chỉ hoạt động ở bus 800, nhưng những nhà sản xuất đã thử nghiệm nó có thể hoạt động lên tới bus 1066 Mhz hoặc cao hơn. Việc ép xung RAM chỉ được thực hiện khi người sử dụng thiết đặt nó trong hệ thống máy tính của mình mà không thể tự động hoạt động ở các bus đã được test bởi nhà sản xuất.
Phần mềm phục vụ ép xung

Những phần mềm phục vụ quá trình hoạt động ổn định khi ép xung không thể thiếu đối với các overclocker, bởi chỉ có chúng mới có thể vắt kiệt sức lực của hệ thống trong một khoảng thời gian nhất định (theo thiết đặt) để kiểm chứng một kết quả ép xung thành công.
Đối với việc ép xung đạt tới các tốc độ rất cao trong một thời gian nhất định thường không được coi trọng. Một số overclocker đã khoe chiến tích của mình bằng các ảnh chụp màn hình kết quả các phần mềm đo đạc thông số, nhưng nó thực sự không có tính thuyết phục nếu như không có thời gian hệ thống đã đạt ổn định khi hoạt động ở mức ép xung cao.
Các phần mềm phục vụ ép xung có thể có một trong các tính năng sau (hoặc có tất cả):
  • Hiển thị chi tiết các thông số làm việc của hệ thống như: bus, xung nhịp CPU...
  • Có thể tạo ra các yêu cầu xử lý những tác vụ nặng về tính toán, đồ hoạ...để có thể kiểm tra sự hoạt động ổn định của các linh kiện phần cứng được ép xung. Quá trình đó được ghi nhận lại và không mất kết quả ngay cả khi hệ thống bị “treo cứng” bởi quá trình ép xung không thành công.
 
Sửa lần cuối: