Phổ cập kiến thức

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Topic này là để mọi người post những thông tin về phần cứng, các thiết bị công nghệ.

Tìm hiểu bo mạch chủ

Bo mạch chủ (mainboard) là một bảng gồm những mạch điện tử có gắn vi xử lý, bộ nhớ, khe cắm mở rộng, cổng bus… để kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi phần của máy tính. 25 năm đã trôi qua kể từ khi bo mạch chủ PC ra đời, dù diện mạo đổi thay nhiều nhưng chức năng vẫn như ban đầu.

Sự cải tiến của bo mạch chủ

Máy tính nguyên thủy có rất ít thiết bị tích hợp. Chúng chỉ có các cổng, bàn phím và hộp băng lưu trữ. Thiết bị điều hợp màn hình hay điều khiển ổ mềm, ổ cứng đều được kết nối qua khe cắm mở rộng.

b2.jpg

b.jpg

Đây là mặt trước và mặt sau của mẫu bo mạch chủ IBM dành cho PC đầu tiên vào năm 1981. Các chip được nối với nhau như một cái lưới. Ảnh: International Business Machines Corporation.

Về sau, có nhiều thiết bị hơn được tích hợp vào bo mạch chủ. Dù vậy, quá trình này cũng khá lâu dài, ví dụ cổng I/O (nối cáp đầu vào/đầu ra) hay thiết bị điều khiển đĩa thường được kết nối bằng thẻ mở rộng cho đến năm 1995. Nhiều thiết bị khác liên quan đến đồ họa, mạng, âm thanh vẫn tách rời khỏi mainboard.

Nhiều hãng sản xuất đã thử nghiệm với nhiều mức độ tích hợp khác nhau. Tuy nhiên, việc này cũng gây ra nhiều hạn chế vì người dùng sẽ khó nâng cấp một tính năng nào đó, ví dụ, bạn muốn đẩy khả năng đồ họa lên cao sẽ đồng nghĩa với việc thay cả mainboard.

Do đó, các bộ phận cần nâng cấp nhiều như RAM, CPU và vi xử lý đồ họa thường được đặt ở khe cắm dạng slot (cắm đứng) hay socket (đặt nằm) để dễ thay thế. Các bộ phận ít được sử dụng tới như SCSI sau này bị bỏ đi để giảm chi phí sản xuất.

Hiện tại bo mạch chủ tích hợp các chip đồ họa, mạng... thường xuất hiện ở dòng máy tính giá rẻ. PC cấu hình cao dùng cho việc chơi game hay thiết kế đồ họa, xử lý phim ảnh thường dùng bo mạch chủ không tích hợp để tiện nâng cấp.

Trên bo mạch chủ trước kia, vào khoảng năm 1995, vi xử lý dạng socket rất phổ biến. Đến cuối năm 1998, dạng slot bắt đầu chiếm lĩnh thị trường, mở đầu là Slot 1 ở dòng Pentium II.

bo-cu.jpg

bo-moi.jpg

Sơ đồ bo mạch chủ cũ và mới. Ảnh: Answers.

Tìm hiểu về bus

Thiết kế PC hiện nay dùng nhiều bus khác nhau để kết nối các bộ phận của chúng. Tuy nhiên, bus rộng và có tốc độ cao rất khó sản xuất do các tín hiệu truyền đi với tốc độ “chóng mặt”, đến mức ngay cả khoảng cách chỉ vài centimetre cũng gây lỗi định thời gian. Ngoài ra, các rãnh kim loại trên bản mạch có tác dụng như chiếc anten vô tuyến thu nhỏ, truyền tiếng ồn điện từ gây ra tình trạng nhiễu các tín hiệu ở những chỗ khác trong hệ thống. Vì vậy, các kỹ sư thiết kế PC luôn đặt bus nhanh ở chỗ có diện tích nhỏ hẹp và bus chậm ở nơi thoáng hơn.

Bus là hệ thống dây nối để truyền dữ liệu từ bộ phận này đến bộ phận khác trong máy tính. Nói một cách ví von, bus giống như con đường cao tốc, càng rộng càng truyền được nhiều dữ liệu đi với tốc độ cao.

Tất cả các bus đều bao gồm 2 phần: bus địa chỉ và bus dữ liệu. Bus dữ liệu sẽ chuyển dữ liệu thực sự, còn bus địa chỉ sẽ truyền thông tin về đích đến của thông tin đó.

Kích thước của bus, được hiểu như độ rộng của đường cao tốc, là yếu tố quan trọng quyết định lượng dữ liệu được chuyển đi mỗi lần. Ví dụ, bus 16 bit, 32 bit… có thể truyền từng đó dữ liệu một lần.

Mỗi bus đều có xung đồng hồ được đo bằng MHz. Bus càng nhanh thì dữ liệu được chuyển đi càng nhanh, giúp cho ứng dụng trên máy tính hoạt động trơn tru và nhanh nhẹn hơn. Trên PC, bus ISA đang dần được thay thế bằng bus có tốc độ nhanh hơn như PCI. Hầu hết máy tính hiện nay đều có bus nội dành cho dữ liệu, yêu cầu tốc độ truyền tải nhanh như tín hiệu video. Bus nội này như một con đường cao tốc nối trực tiếp với vi xử lý.

Source:
Mã:
http://vnexpress.net/Vietnam/Vi-tinh/Kinh-nghiem/2006/11/3B9F0AE9/
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Chống cháy nổ cho máy tính ngày hè

Đa số người dùng máy tính phổ thông "quên" yếu tố nhiệt độ khi mua sắm hoặc vận hành mà chỉ chú ý tới thông số về tốc độ, xung nhịp, dung lượng và giá tiền. Trong khi đó, hỏng hóc như cháy mạch, nổ chip thường bị nhà cung cấp từ chối bảo hành.

Nhiệt độ trong máy tính

Khi máy tính làm việc, dòng điện chạy qua bóng bán dẫn và mạch điện toả ra nhiệt năng. Một con chip có thể nóng hơn nhiệt độ môi trường quanh nó (trong vỏ máy) 10 - 15 độ C. Nhiệt độ này tỷ lệ thuận với xung nhịp của chip và điện áp hoạt động.

Trong thiết kế sản phẩm, các nhà sản xuất linh kiện máy tính cũng phải dành ra một khoản để giải quyết nhiệt năng toả ra trong sản phẩm của mình trong điều kiện làm việc bình thường. Chip đảm nhiệm công việc nặng như CPU, xử lý đồ hoạ (GPU) thường có tản nhiệt riêng và quạt gió đi kèm.

PC.jpg

Lỗi cháy nổ chip thường bị các nhà phân phối từ chối bảo hành. Ảnh: Hưng Hải.

IC chính của mainboard, RAM tốc độ cao cũng được gắn thêm thanh tản nhiệt bằng nhôm. Máy tính của dân "khát" tốc độ như game thủ, mod case phải có thiết bị tản nhiệt riêng tuỳ theo mức độ tăng điện áp lõi và xung nhịp của chip.

Khả năng chịu nhiệt của linh kiện máy tính khác nhau tuỳ loại sản phẩm, hãng chế tạo, dải nhiệt độ làm việc phổ biến từ 0 - 70 độ C. Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, môi trường lý tưởng để máy tính làm việc từ 15 - 24 độ C.

Đa số máy tính tại Việt Nam không có được môi trường "phòng lạnh" như vậy ngoài số trang bị tại cơ quan, công sở. Tại các quán game, hộ gia đình, nhiệt độ ngoài vỏ máy trung bình khoảng 30 độ C. Khi đó, bên trong vỏ máy khoảng 35 - 40 độ C do nhiệt năng toả từ các bộ phận bên trong máy, quạt tản nhiệt cũng chỉ thổi loanh quanh trong thùng. Nhiệt độ của chip hoạt động bình thường đã ở mức xấp xỉ 60 độ C.

PC1.jpg

Nhiệt độ cao "thổi" bay tụ điện. Ảnh: Hưng Hải.

Vào những ngày trời nóng liên tục, nhiệt năng không được giải toả kịp thời sẽ làm cho mạch điện, liên kết tinh vi bên trong IC biến dạng tạm thời, máy tính hoạt động không chính xác hoặc chậm chạp. Duy trì tình trạng đó trong thời gian dài có thể gây cháy nổ IC, phá huỷ luôn linh kiện. Một số mainboard và chip thế hệ mới có khả năng tự bảo vệ, đưa ra cảnh báo khi đến ngưỡng nhất định. Nếu nhiệt độ không giảm máy sẽ ngừng hoạt động.

Cháy nổ không chỉ vì tản nhiệt

"Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cháy nổ linh kiện, có thể do điện áp nguồn không ổn định, linh kiện chất lượng kém hoặc sơ xuất khi lắp ráp khiến miếng tản nhiệt tiếp xúc không tốt", một kỹ thuật viên phòng bảo hành công ty TIC (Hà Nội) cho biết. "Máy tính tại Việt Nam chủ yếu là lắp ráp thủ công, có khi người dùng tự mua ổ cứng, RAM, card màn hình... để nâng cấp. Có khi một linh kiện không tốt lại là nguyên nhân dẫn đến hỏng hóc của cái khác".

PC2.jpg

Đồ hiệu cũng cháy vì linh kiện không đồng bộ. Ảnh: Hưng Hải.

Đa phần các nhà sản xuất từ chối bảo hành đối với sản phẩm hỏng hóc do cháy nổ mà chỉ hỗ trợ sửa chữa có tính phí. Lý do họ đưa ra là sản phẩm trước khi bán đều được cho hoạt động thử một thời gian nhất định. Việc cháy nổ chủ yếu do cách vận hành, sử dụng của người dùng. Tuy nhiên, vẫn có một vài công ty bán lẻ chấp nhận mạo hiểm, tự cam kết bảo hành cho khách hàng của mình.

Trên thực tế, linh kiện có thể chịu được nhiệt độ cao hơn chỉ số nhà sản xuất ghi trên bao bì sản phẩm. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác như bụi bẩn làm giảm lượng không khí lưu thông, tiếp xúc không tốt, ... khiến khả năng tản nhiệt giảm đi, nhiệt độ khi làm việc có thể tăng bất thường. Mặt khác, bụi bẩn khi gặp không khí ẩm ướt có thể gây đoản mạch tại những chân IC, làm cháy linh kiện.

Hạ "sốt" cho máy tính

Một bộ nguồn tốt là yếu tố quan trọng trong việc hạn chế cháy, nổ linh kiện máy tính. Ngoài công suất đủ lớn để cấp điện cho toàn bộ máy tính hoạt động, chất lượng bộ nguồn còn nằm ở chỗ đảm bảo sự ổn định của dòng điện.

PC3.jpg

PC4.jpg

Nổ chân RAM và khe cắm trên mainboard vì bụi bẩn. Ảnh: Hưng Hải.

Mainboard đời mới đều dành riêng một mục trong ROM-BIOS để cài đặt quản lý nhiệt độ. Tuỳ theo model và hãng sản xuất mà số cảm biến được "cài" trên mainboard khác nhau. Loại sản phẩm phổ thông cho phép người dùng biết được số vòng quay của quạt chip, quạt VGA và nhiệt độ chip. Những loại đắt tiền hơn cho phép người dùng thiết lập kịch bản nhiệt độ (thermal scheme) đến từng chi tiết để cảnh báo và tắt máy khi quá nóng. Nhiệt độ chip thường mặc định ở mức cảnh báo 60 độ C và ngừng hoạt động ở 65 độ C. Loa trên main sẽ liên tục phát ra âm thanh giống còi cứu hoả khi đến ngưỡng.

Cùng giá tiền, chip do AMD sản xuất có hiệu năng cao hơn nhưng khi vận hành cũng nóng hơn so với chip Intel. Dân mê game và đồ hoạ kỹ thuật vì thế chuộng AMD hơn, nhưng cũng phải bỏ nhiều tiền hơn cho bộ tản nhiệt.

Máy tính tại cửa hàng game hoặc Internet công cộng hay bị bụi bám rất nhiều vì nằm ngay mặt đường, không được che đậy cẩn thận như máy cá nhân tại gia đình hoặc công sở. Chúng cần được vệ sinh mỗi tuần 1 lần để đảm bảo không bị những trục trặc bất ngờ.

Người dùng tại gia đình có thể kiểm soát nhiệt độ máy tính của mình qua phần Setup của ROM BIOS và các tiện ích đi kèm mainboard. Nếu chỉ là tay ngang, bạn có thể download tiện ích kiểm tra phần cứng như Everest của hãng Lavalys để theo dõi cảm biến nhiệt trên bo mạch chủ. Nhiệt độ chip được duy trì dưới 55 độ C là tình trạng tốt nhất. Nếu nhiệt độ tăng nhanh sau một thời gian ngắn vận hành là dấu hiệu hệ thống tản nhiệt cần được nâng cấp.

Source:
Mã:
http://www.quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=39823
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Khái niệm cơ bản về một số phần cứng. Post lên có lẽ cũng ko thừa.
System memory: khi ta nói đến "memory" thì có lẽ hơi mơ hồ và khó hiểu cho rất nhiều bạn, nhất là những bạn chưa có quen biết vi cấu trúc máy tính nhiều. Thực ra từ memory trong quá khứ được diễn tả như đại diện cho tất cả "vùng nhớ" trong computer ngoại trừ CPU. Ðó là trong quá khứ khi mà vi tính chưa phát triễn mạnh mẽ, chứ nếu dùng từ memory mà đề cập trong những thế hệ máy tính hiện nay thì danh từ nầy hoàn toàn mù mờ và không chích xác diễn tả các bộ phận trong máy vi tính nữa. Chúng ta có RAM, ROM, DRAM, SRRAM, DDR SDRAM... Ðể tránh sự lẫn lộn, tôi xin phép diễn tả ngắn gọn về memory và các thuật ngữ liên quan để các bạn hiểu rõ.

Memory: Memory đơn giản là một thiết bị nhớ nó có thể ghi và chứa thông tin. ROM, RAM, Cache, Hard disk, Floppy disk, CD.... đều có thể gọi là memory cả (vì nó vẫn lưu thông tin). Dù là loại memory nào bạn cũng nên để ý đến các tính chất sau đây:

* Sức chứa: thiết bị có thể chứa được bao nhiêu? Ví dụ: CD chứa được 650 MB-700 MB, Floppy disk chứa được 1.4 MB, Cache chứa được 256 KB...

* Tốc độ truy nhập: bạn nên lưu ý đến tốc độ vận truyền thông tin của thiết bị. Bạn có memory loại "chạy lẹ" khi mà thời gian truy cập thông tin ngắn hơn. Đây là phần quan trọng quyết định tốc độ truy cập của thiết bị. Ví dụ đơn giản là nếu bạn có con CPU chạy tốc độ 1.5 Ghz trong khi đó hard disk của bạn thuộc loại "rùa bò" thì dù CPU có lẹ đến đâu nó cũng đành phải....chờ thôi!
Tính về tốc độ thì CPU bao giờ cũng lẹ nhất, sau đó là Cache, sau nữa là các loại RAM.

* Interface: bạn nên xem cấu trúc bên ngoài của memory nó có phù hợp với (ăn khớp) các thiết bị khác của bạn không. Ví dụ, nhiều loại RAM trên thị trường có số chân cắm và đặc tính khác nhau. Để phù hợp cho motherboard của bạn, bạn nên xem xét motherboard trước khi mua memory.

Các loại memory

ROM (Read Only Memory)

Ðây là loại memory dùng trong các hãng sản xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là thông tin lưu trữ trong ROM không thể xoá được và không sửa được, thông tin sẽ được lưu trữ mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM có bất lợi là một khi đã cài đặt thông tin vào rồi thì ROM sẽ không còn tính đa dụng (xem như bị gắn "chết" vào một nơi nào đó). Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard hay là BIOS ROM để vận hành khi máy vi tính vừa khởi động.

PROM (Programmable ROM)

Mặc dù ROM nguyên thủy là không xoá/ghi được, nhưng do sự tiến bộ trong khoa học, các thế hệ sau của ROM đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể cài đặt lại ROM bằng cách dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền (khả năng người dùng bình thường không thể với tới được). Thông tin có thể được "cài" vào chip và nó sẽ lưu lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là thông tin chỉ cài đặt một lần mà thôi. CD có thể được gọi là PROM vì chúng ta có thể copy thông tin vào nó (một lần duy nhất) và không thể nào xoá được.

EPROM (Erasable Programmable ROM)

Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM nhưng chúng ta có thể xoá và viết lại được. Dạng "CD-Erasable" là một điển hình. EPROM khác PROM ở chổ là thông tin có thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người xử dụng, và phương pháp xoá là hardware (dùng tia hồng ngoại xoá) cho nên khá là tốn kém và không phải ai cũng trang bị được.

EEPROM (Electronic Erasable Programmable ROM)

Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là có thể ghi và xoá thông tin lại nhiều lần bằng software thay vì hardware. Ví dụ điển hình cho loại EPROM này là "CD-Rewritable" nếu bạn ra cửa hàng mua một cái CD-RW thì có thể thu và xoá thông tin mình thích một cách tùy ý. Ứng dụng của EEPROM cụ thể nhất là "flash BIOS". BIOS vốn là ROM và flash BIOS tức là tái cài đặt thông tin (upgrade) cho BIOS. Cái tiện nhất ở phương pháp này là bạn không cần mở thùng máy ra mà chỉ dùng software điều khiển gián tiếp.

RAM (Random Access Memory)

Rất nhiều người nghĩ là RAM khác với ROM trên nhiều khía cạnh nhưng thực tế RAM chẳng qua là thế hệ sau của ROM mà thôi. Cả RAM và ROM đều là "random access memory" cả, tức là thông tin có thể được truy cập không cần theo thứ tự. Tuy nhiên ROM chạy chậm hơn RAM rất nhiều. Thông thường ROM cần trên 50 ns để vận hành thông tin trong khi đó RAM cần dưới 10 ns (do cách chế tạO:-). Tôi sẽ trở lại với phần "shadow BIOS ROM" sau này.

SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)

SRAM là loại RAM lưu giữ data mà không cần cập nhật thường xuyên (static) trong khi DRAM là loại RAM cần cập nhật data thường xuyên (high refresh rate). Thông thường data trong DRAM sẽ được refresh (làm tươi) nhiều lần trong một second để lưu giử lại những thông tin đang lưu trữ, nếu không refresh lại DRAM thì dù nguồn điện không ngắt, thông tin trong DRAM cũng sẽ bị mất.
SRAM chạy lẹ hơn DRAM. Nhiều người có thể lầm lẫn là DRAM là "dynamic" cho nên ưu việt hơn. Điều đó không đúng. Trên thực tế, chế tạo SRAM tốn kém hơn hơn DRAM và SRAM thường có kích cỡ lớn hơn DRAM, nhưng tốc độ nhanh hơn DRAM vì không phải tốn thời gian refresh nhiều lần. Sự ra đời của DRAM chỉ là một lối đi vòng để hạ giá sản xuất của SRAM (tôi sẽ nói rõ hơn về bên trong CPU, DRAM, và SRAM).

FPM-DRAM (Fast Page Mode DRAM)

Ðây là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM DRAM sẽ chạy lẹ hơn DRAM một tí do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập thông tin. Những loại RAM như FPM hầu như không còn sản xuất trên thị trường hiện nay nữa.

EDO-DRAM (Extended Data Out DRAM)

Là một dạng cải tiến của FPM DRAM, nó chạy lẹ hơn FPM DRAM một nhờ vào một số cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập data. Một đặc điểm nữa của EDO DRAM là nó cần support của system chipset. Loại memory này chạy với máy 486 trở lên (tốc độ dưới 75 MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật hiện nay. EDO-DRAM chạy lẹ hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.

BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)

Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật "pineline technology" để rút ngắn thời gian dò địa chỉ của data. Nếu các bạn để ý những mẫu RAM tôi giới thiệu trên theo trình tự kỹ thuật thì thấy là hầu hết các nhà chế tạo tìm cách nâng cao tốc độ truy cập thông tin của RAM bằng cách cải tiến cách dò địa chỉ hoặt cách chế tạo hardware. Vì việc giải thích về hardware rất khó khăn và cần nhiều kiến thức điện tử cho nên tôi chỉ lướt qua hoặc trình bày đại ý. Nhiều mẩu RAM tôi trình bày có thể không còn trên thị trường nữa, tôi chỉ trình bày để bạn có một kiến thức chung mà thôi.

SDRAM (Synchronous DRAM)

Ðây là một loại RAM có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM trước. Như tên gọi của nó là "synchronous" DRAM, synchronous có nghĩa là đồng bộ, nếu bạn học về điện tử số thì sẽ rõ hơn ý nghĩ của tính đồng bộ.
Synchronous là một khái niệm rất quan trọng trong lĩnh vực digital, trong giới hạn về chuyên môn tôi cũng rất lấy làm khó giải thích. Bạn chỉ cần biết là RAM hoạt động được là do một memory controller (hay clock controller), thông tin sẽ được truy cập hay cập nhật mổi khi clock (dòng điện) chuyển từ 0 sang 1, "synchronous" có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ 0 sang 1 chứ không hẳn là clock qua 1 hoàn toàn (khi clock chuyển từ 0 sang 1 hay ngược lại, nó cần 1 khoảng thời gian interval, tuy vô cùng ngắn nhưng cũng mất 1 khoảng thời gian, SDRAM không cần chờ khoảng interval này kết thúc hoàn toàn rồi mới cập nhật thông tin, mà thông tin sẽ được bắt đầu cập nhật ngay trong khoảng interval). Do kỹ thuật chế tạo mang tính bước ngoặt này, SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM trước.
Đây là loại RAM thông dụng nhất trên thị trường hiện nay, tốc độ 66-100-133 Mhz.

DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)

Ðây là loại memory cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập của SDRAM bằng cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ 0 sang 1 và từ 1 sang 0. Ngay khi clock của memory chuyển từ 0 sang 1 hoặc từ 1 sang 0 thì thông tin trong memory được truy cập.
Loại RAM này được CPU Intel và AMD hỗ trợ, tốc độ hiện tại vào khoảng 266 Mhz. (DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)

DRDRAM (Direct Rambus DRAM)

Ðây lại là một bước ngoặt mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ thống Rambus (cũng là tên của một hãng chế tạo nó) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn khác loại SDRAM truyền thống. Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống phụ gọi là Direct Rambus Channel có độ rộng 16 bit và một clock 400 MHz điều khiển. (có thể lên 800 MHz)
Theo lý thuyết thì cấu trúc mới này sẽ có thể trao đổi thông tin với tốc độ 800 MHz x 16 bits = 800 MHz x 2 bytes = 1.6 GB/giây. Hệ thống Rambus DRAM như thế nầy cần một serial presence detect (SPD) chip để trao đổi với motherboard. Ta thấy kỹ thuật mới này dùng 16 bits interface, trông trái hẳn với cách chế tạo truyền thống là dùng 64 bits cho memory, bởi thế kỹ thuật Rambus (sở hữu chủ của Rambus và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM) tương đối khác so với memory truyền thống.
Loại RAM này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel Pentum IV, khá đắt, tốc độ vào khoảng 400-800 Mhz

SLDRAM (Synchronous-Link DRAM)

Là thế sau của DRDRAM, thay vì dùng Direct Rambus Channel với chiều rộng 16 bit và tốc độ 400 MHz, SLDRAM dùng bus 64 bit chạy với tốc độ 200 MHz. Theo lý thuyết thì hệ thống mới có thể đạt được tốc độ 400 Mhz x 64 bits = 400 Mhz x 8 bytes = 3.2 Gb/giây, tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được phát triển bởi một nhóm 20 công ty hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và phù hợp nhiều hệ thống khác nhau.

VRAM (Video RAM)

Khác với memory trong hệ thống và do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng chế tạo graphic card đã chế tạo VRAM riêng cho video card của họ mà không cần dùng memory của hệ thống chính. VRAM chạy lẹ hơn vì ừng dụng Dual Port technology nhưng đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.

SGRAM (Synchronous Graphic RAM)

Là sản phẩm cải tiến của VRAM mà ra, đơn giản nó sẽ đọc và viết từng block thay vì từng mảng nhỏ.

Flash Memory

Là sản phẩm kết hợp giửa RAM và hard disk. Có nghĩa là Flash memory có thể chạy lẹ như SDRAM mà và vẫn lưu trữ được data khi power off.

PC66, PC100, PC133, PC1600, PC2100, PC2400....
Chắc khi mua sắm RAM bạn sẽ thấy họ đề cập đến những từ như trên. PC66, 100, 133MHz thì bạn có thể hiểu đó là tốc độ của hệ thống chipset của motherboard. Nhưng PC1600, PC2100, PC2400 thì có vẻ hơi...cao và quái lạ! Thực ra những từ này ra đời khi kỹ thuật Rambus phát triển. Ðặt điểm của loại motherboard này là dùng loại DDR SDRAM (Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM). Như đã đề cập ở phần trên, DDR SDRAM sẽ chạy gấp đôi (trên lý thuyết) loại RAM bình thường vì nó dùng cả rising and falling edge của system clock. Cho nên PC100 bình thường sẽ thành PC200 và nhân lên 8 bytes chiều rộng của DDR SDRAM: PC200 * 8 = PC1600. Tương tự PC133 sẽ là PC133 * 2 * 8bytes = PC2100 và PC150 sẽ là PC150 * 2 * 8 = PC2400.

BUS: gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống hành lang để dẫn data từ các bộ phận trong computer (CPU, memory, IO devices). BUS có chức năng như hệ thống ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức nước mạnh hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra.
FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main memory.
BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2)

Cache memory

Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1 MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache là một cách nâng cao hiệu quả truy cập thông tin của máy tính mà thôi. Những thông tin bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mỗi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
Lý do Cache memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache Level 1 (L1), Cache level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache L2...

Interleave

Là một kỹ thuật làm tăng tốc độ truy cập thông tin bằng cách giảm bớt thời gian nhàn rỗi của CPU. Ví dụ, CPU cần đọc thông tin thông từ hai nơi A và B khác nhau, vì CPU chạy quá lẹ cho nên A chưa kịp lấy đồ ra CPU phải chờ rồi! A thấy CPU chờ thì phiền quá mới bảo CPU sang B đòi luôn sau đó trỡ lại A lấy cũng chưa muộn! Bởi thế CPU có thể rút bớt thời gian mà lấy được đồ ở cả A và B. Toàn bộ nghĩa interleave là vậy.

Bursting

Cũng là một kỹ thuật khác để giảm thời gian truyền tải thông tin trong máy tính. Thay vì CPU lấy thông tin từng byte một, bursting sẽ giúp CPU lấy thông tin mỗi lần là một block.

ECC (Error Correction Code)

Khi mua RAM bạn có thể thấy cụm từ nầy mô tả phụ thêm vào loại RAM. Ðây là một kỹ thuật để kiểm tra và sửa lỗi trong trường hợp 1 bit nào đó của memory bị sai giá trị trong khi lưu chuyển data. Những loại RAM có ECC thường dùng cho các loại computer quan trọng như server. Tuy nhiên không có ECC cũng không phải là mối lo lớn vì theo thống kê 1 bit trong memory có thể bị sai giá trị khi chạy trong gần 750 giờ, người tiêu dùng bình thường như chúng ta đâu có ai mở máy liên tục tới...1 tháng đâu chớ!

Register và Buffer (cùng như nhau)

Ðôi khi mua memory bạn có thể thấy người bán đề cập đến tính chất của memory là có buffer, register...Buffer và Register chủ yếu dùng để quản lý các modules trên RAM. Trông hình vẽ dưới chắc bạn cũng sẽ nhận ra được loại RAM có buffer. Loại RAM có buffer hay register thì sẽ chạy chậm hơn loại RAM không có buffer hay register một ít.

CAS (Column Address Strobe) latency

Latency nghĩa là khoảng thời gian chờ đợi để làm cái gì đó, CAS latency là thuật ngữ diễn tả sự delay trong việc truy cập thông tin của memory và được tính bằng clock cycle. Ví dụ, CAS3 là delay 3 "clock cycle". Trong quá khứ các nhà sản xuất cố gắng hạ thấp chỉ số delay xuống nhưng nó sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản phẩm.

Cách tính dung lượng của memory (RAM)

Thông thường RAM có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số hàng (chiều sâu) của RAM trong đơn vị Mega Bit, thông số thứ nhì biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4 = 32 MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16 MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các hãng sãn xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều nầy khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM tức là một miếng RAM 256 MB.

Số Pin của RAM

Khi chọn RAM, ngoài việc chú ý tốc độ, sức chứa, ta phải coi số Pin của nó. Thông thường số Pin của RAM là (tuỳ vào loại RAM): 30, 72, 144, 160, 168, 184 pins.

SIMM (Single In-Line Memory Module)

Ðây là loại ra đời sớm và có hai loại hoặc là 30 pins hoặc là 72 pins. Người ta hay gọi rõ là 30-pin SIMM hoặc 72-pin SIMM. Loại RAM (có cấu hình SIMM) này thường tải thông tin mỗi lần 8 bits, sau đó phát triễn lên 32 bits. Bạn cũng không cần quan tâm lắm đến cách vận hành của nó, nếu ra ngoài thị trường bạn chỉ cần nhận dạng SIMM khi nó có 30 hoặc 72 pins. Loại 72-pin SIMM có chiều rộng 41/2" trong khi loại 30-pin SIMM có chiều rộng 31/2" (xem hình)

30-72-pin-SIMM.jpg

DIMM (Dual In-line Memory Modules)

Cũng gần giống như loại SIMM mà thôi nhưng có số pins là 72 hoặc 168. Một đặc điểm khác để phân biệt DIMM với SIMM là cái chân (pins) của SIMM dính lại với nhau tạo thành một mảng để tiếp xúc với memory slot trong khi DIMM có các chân hoàn toàn cách rời độc lập với nhau. Một đặc điểm phụ nửa là DIMM được cài đặt thẳng đứng (ấn miếng RAM thẳng đứng vào memory slot) trong khi SIMM thì ấn vào nghiêng khoảng 45 độ. Thông thường loại 30 pins tải data 16bits, loại 72 pins tải data 32bits, loại 144 (cho notebook) hay 168 pins tải data 64bits.

DIMM.jpg

SO DIMM (Small Outline DIMM)

Ðây là loại memory dùng cho notebook, có hai loại pin là 72 hoặc 144. Nếu bạn để ý một tý thì thấy chúng có khổ hình nhỏ phù hợp cho notebook. Loại 72 pins vận hành với 32 bits, loại 144 pins vận hành với 64 bits.

RIMM (Rambus In-line Memory Modules) và SO RIMM (RIMM dùng cho notebook)

rimm.jpg

Là technology của hãng Rambus, có 184 pins (RIMM) và 160 pins (SO RIMM) và truyền data mỗi lần 16 bit (thế hệ cũ chỉ có 8 bits mà thôi) cho nên chạy nhanh hơn các loại cũ. Tuy nhiên do chạy với tốc độ cao, RIMM memory tụ nhiệt rất cao thành ra lối chế tạo nó cũng phải khác so với các loại RAM truyền thống. Như hình vẽ bên dưới bạn sẽ thấy miếng RAM có hai thanh giải nhiệt kẹp hai bên gọi là heat speader. Nếu bạn dùng Pentium 4 sẽ gặp loại RAM này.

Source:
Mã:
http://www.diendantinhoc.net/tute/phancung/ram-rongreu/index.html
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Bộ nhớ và lưu trữ (Phần 1)



Các mạng điển hình ngày nay có rất nhiều kiểu lưu trữ dữ liệu khác nhau. Việc hiểu được các phương pháp lưu trữ dữ liệu là cần thiết để tìm hiểu được mạng của bạn. Trong loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số kiểu lưu trữ dữ liệu chung, một số công nghệ sắp được đưa ra và giới thiệu thêm về một số giao thức địa chỉ hóa bộ nhớ chung.

Lưu trữ từ tính

Các ổ đĩa cứng, đó là kiểu lưu trữ từ tính chung nhất, dùng để lưu dữ liệu trên một trục các đĩa mỏng. Các đĩa này được chế tạo từ aluminum, thủy tinh hoặc ceramic và được bọc bên ngoài với một lớp vật liệu sắt từ, thường là hợp kim coban. Lớp vật liệu sắt từ này bao phủ sẽ cho phép đầu đọc/ghi có thể từ hóa các vùng nhỏ của đĩa để thể hiện dữ liệu số trên đó.

Hard-Drive.jpg

Hình 1: Ổ cứng đã được bóc lớp vỏ

Có nhiều đĩa mỏng bên trong một ổ cứng, chúng được cách li với nhau bởi các miếng đệm trên một trục đơn. Trục này được điều khiển bởi một mô tơ có thể quay tròn các đĩa. Tốc độ của mô tơ này là không đổi và là tốc độ của ổ cứng.

Các đầu đọc ghi trên từng mặt đĩa được gắn với một cánh tay chuyển động riêng. Cánh tay chuyển động này được điều khiển bằng một mô tơ servo có thể chuyển đầu đọc vào gần hoặc ra xa với trục.

Có hai cách để ghi dữ liệu lên đĩa: theo chiều ngang và chiều vuông góc. Chiều ngang là cách truyền thống để ghi dữ liệu lên đĩa. Bạn có thể nghĩ nó giống như một thanh nam châm được đặt bằng phẳng trên bề mặc đĩa từ đầu đến cuối. Có thể hình dung dễ dàng rằng các vùng này mất rất nhiều không gian. Đây là lý do tại sao các nhà sản xuất ổ cứng đã phải đầu tư nghiên cứu rất nhiều để giảm kích thước của các vùng này. Hiện chúng ta đã đạt được giới hạn nào đó về thiết kế cho các vùng. Điều này là bởi vì hiệu quả siêu thuận từ. Cơ bản, hiệu quả này mô tả các hiệu quả nhiệt độ ngẫu nhiên có thể lật cực tính của mỗi nam châm rất nhỏ. Trên mỗi ổ cứng, nếu cực tính của một trong các vùng có nam châm được lật thì có nghĩa là dữ liệu đã được thay đổi từ “1” thành “0”.

Công nghệ ghi vuông góc có thể cho phép các thiết kế đóng gói được nhiều dữ liệu hơn trên cùng một vùng của đĩa mà không phải buồn phiền về hiệu quả của siêu thuận từ cho các vùng có kích thước giống nhau. Nó hơi khó hiểu trong vấn đề tại sao chúng ta không phải lo lắng về hiệu quả của siêu thuận từ. Về bản chất vấn đề này là hướng của trường từ tính đã thay đổi, và vì vậy chúng tương tác với các thành phần bên cạnh của chúng khác nhau. Sự tương tác này rất quan trọng trong việc xác định xem siêu thuận từ có ảnh hưởng hay không. Tương tự với ổ cứng, các bit được lưu trên một dải băng bằng cách đảo cực một vùng từ tính nhỏ. Có hai kiểu cơ bản của dải băng đó là: tuyến tính và xoắn ốc.

Các ổ băng tuyến tính có các rãnh tuyến tính. Trên băng có một số rãnh mở rộng từ băng này đến băng khác. Mỗi rãnh gồm có nhiều vùng từ tính nhỏ, các vùng này có thể được sử dụng để thể hiện bít dữ liệu ‘1’ hoặc ‘0’. Các băng xoắn ốc có các rãnh có thể chạy theo đường chéo lên xuống theo băng. Điều đó có nghĩa rằng các rãnh sẽ chồng lên nhau. Bình thường điều đó là không tốt, tuy nhiên kiểu băng này sẽ dụng hai đầu ghi, mỗi đầu ghi lại sử dụng một trạng thái phân cực đối nhau, điều đó cho phép đầu đọc có thể phân biệt được các rãnh. Do vậy nó có thể cho dung lượng cao hơn khi sử dụng băng.

Bộ nhớ bán dẫn

Một trong những loại bộ nhớ bán dẫn thông thường đó là RAM, bạn có thể xem hình 2. Có hai loại RAM chung đó là động và tĩnh. Ram tĩnh (SRAM) lưu dữ liệu trong một bộ gồm có 6 transistor (6 transistor này tạo thành một khối được biết đến đó là một flip-flop (FF)). Ram động (DRAM) lưu dữ liệu bằng các tụ điện, cần phải làm tươi liên tục, đây là lý do tại sao DRAM không lưu được dữ liệu khi mất điện. Ưu điểm của DRAM là chỉ cần đến một trasistor và mỗi tụ điện cho mỗi bit. Điều này làm cho nó có dung lượng nhớ cao hơn SRAM. Còn ưu điểm của SRAM là các transistor không cần đến việc làm tươi và tương tác nhanh hơn các tụ điện.

RAM.jpg

Hình 2: RAM

Một kiểu bộ nhớ bán dẫn khác đang được sử dụng nhiều hiện nay đó là bộ nhớ Flash. Trong loại bộ nhớ này cũng được chia thành hai kiểu: NOR và NAND. NOR (Not OR) thường sử dụng các cổng logic NOR trong khi đó NAND (Not AND) lại sử dụng các cổng logic NAND.

Cả hai cổng lôgic NAND và NOR đều được cấu tạo từ các transistor và không chứa tụ điện trong đó. Điều này nghĩa là khi mất điện dữ liệu được lưu bên trong chúng sẽ không bị mất.

USB-flash.jpg

Hình 3: Ổ USB flash

Mặc dù cả NAND và NOR Flash đều tương tự nhau nhưng chúng cũng có một số điểm khác nhau. NAND flash sử dụng công nghệ truy cập tuần tự phù hợp hơn cho việc lưu trữ dữ liệu. NOR flash là một công nghệ truy cập ngẫu nhiên, điều này làm cho nó tốt hơn trong việc lưu trữ các chương trình sử dụng tốn ít bộ nhớ. NOR flash thường được sử dụng trong các ứng dụng như chạy một hệ điều hành của điện thoại di động. NAND flash được sử dụng điển hình trong các ứng dụng như các thẻ nhớ USB. Theo www.appleinsider.com, mẫu điện thoại mới ra mắt iPhone của hãng Apple sử dụng cả NOR và NAND flash.

Bộ nhớ quang

Một kiểu lưu trữ quang học thường được sử dụng nhất đó là CD. Các CD được sản xuất từ polycarbonat plastic có các lỗ nhỏ, các lỗ nhỏ này được sắp xếp theo hình xoắn ốc xung quanh đĩa, đó là các lỗ dùng để biểu thị dữ liệu. Trên polycarbonat này là một lớp vật liệu phản chiếu mỏng, thường là aluminum hay vàng và trên đó là một lớp acrylic để bảo vệ đĩa.

Khi một CD đang đọc, tia laser sẽ đập vào lớp polycarbonat và được phản chiếu vào lớp vật liệu phản chiếu. Tia laser phản chiếu quay trở lại được phát hiện bằng một cảm biến quang, dùng để chuyển đổi tín hiệu tia laser nhận được thành tín hiệu điện. Phụ thuộc vào tia laser tập trung vào các lỗ hổng khác nhau thì tín hiệu điện thu được cũng sẽ khác nhau vì tia phản chiếu khác nhau. Sự khác nhau trong các tín hiệu điện là cách một máy tính có thể đọc dữ liệu trên đĩa CD như thế nào. Đó là trường hợp đối với các CD thông thường, nhưng việc ghi dữ liệu lên các đĩa CD như thế nào? Một CD-R cũng tương tự như một CD trong cấu trúc chung của nó ngoại trừ có hai khía cạnh chính. Đầu tiên đó là nó không có các lỗ.Thứ hai, giữa polycarbonat và aluminum phản chiếu có một lớp thuốc nhuộm trong suốt. Để lưu dữ liệu vào CD-R, tia laser dùng để ghi được tập trung vào phần xoắn ốc muốn ghi (đường xoắn ốc này không tồn tại cho tới khi bạn tạo nó bằng việc ghi dữ liệu lên) và nung nóng lớp thuốc nhuộm. Các thuộc tính hóa học của lớp thuốc nhuộm thay đổi tương ứng ở độ mờ của nó với nhiệt độ đốt nóng. Vì vậy tia laser dùng để ghi có thể chuyển động dọc theo đường xoắn ốc và thay đổi độ mờ của các vùng nhỏ, sự khác biệt trong độ mờ thể hiện ra dữ liệu đó là các con số ‘1’ và ‘0’. Dữ liệu sau đó được đọc từ CD-R theo cách như một CD. CD-R chỉ có thể được ghi một lần. Điều này là bởi vì khi đã làm lớp thuốc nhuộm thay đổi thì bạn không thể làm cho nó trong suốt lại được lần nữa. Vậy sau CD-R là gì? CD-RW sử dụng lớp thuốc nhuộm khác, lúc đầu có màu đục, sau khi được đốt nóng có màu trong suốt. Thuốc nhuộm này cũng có thuộc tính khá thú vị đó là có thể trở lại trạng thái ban đầu nếu được đốt nóng đến một nhiệt độ cao hơn. Điều này cho phép bạn dễ dàng xóa các dữ liệu đã được lưu trên đĩa trước đó.

bumps-DVD.jpg

Hình 4: Ảnh của các lỗ trên một đĩa DVD

Các đĩa DVD làm việc cũng giống như đĩa CD. Các đĩa này có thể lưu nhiều dữ liệu hơn đĩa CD vì về bản chất chúng gồm nhiều đĩa CD mỏng được cất trữ trên một DVD. Điều đó được tạo từ một số lớp polycarbonat và vật liệu phản chiếu. Các tia laser và cảm biến quang cũng có nhiều cải tiến hơn, trong đó tia laser có khả năng xuyên qua các lớp khác nhau và cảm biến quang cũng có thể phát hiện được tất cả các lớp khác nhau đó.

Có một số phương pháp chung trong việc lưu trữ dữ liệu mới. Bạn hãy đón đọc phần tiếp theo của bài báo, trong phần đó chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số kỹ thuật mới như bộ nhớ pulse-change và bộ nhớ holographic.

Mã:
 http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=39767



Thank cho mình nếu bạn thấy vừa ý! :->:->
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm hiểu về tấn công từ chối dịch vụ DoS

Có thể bạn đã từng nghe nhiều về tấn công từ chối dịch vụ và cũng có thể đã từng là nạn nhân của kiểu tấn công này. Tấn công từ chối dịch vụ rất khó có thể phân biệt với các hoạt động mạng, tuy nhiên có nhiều dấu hiệu để phát hiện ra các tấn công này và Quantrimang.com sẽ giới thiệu một số dấu hiệu đó.

Tìm hiểu về tấn công từ chối dịch vụ ( DoS )?

Trong tấn công từ chối dịch vụ, kẻ tấn công cố gắng ngăn cản người dùng truy cập thông tin hoặc dịch vụ. Bằng cách nhằm vào các máy tính và sử dụng mạng máy tính mà bạn đang dùng, kẻ tấn công có thể ngăn cản truy cập email, website, tài khoản trực tuyến ( ví dụ như ngân hàng ) và các dịch vụ khác.

Một kiểu Dos rõ ràng và phổ biến nhất là một kẻ tấn công “làm lụt” mạng bằng thông tin. Khi bạn nhập vào URL của một website vào trình duyệt, lúc đó bạn đang gửi một yêu cầu đến máy chủ của trang này để xem. Máy chủ chỉ có thể xử lý một số yêu cầu vì vậy nếu một kẻ tấn công làm quá tải máy chủ với nhiều yêu cầu thì có thể yêu cầu của bạn không được xử lý. Đây là kiểu “từ chối dịch vụ” vì nó làm cho bạn không thể truy cập đến trang đó.

ddos_attack.jpg

Tấn công từ chối dịch vụ phân tán DDos

Kẻ tấn công có thể sử dụng thư rác để thực hiện các tấn công tương tự trên tài khoản email của bạn. Dù bạn có một tài khoản email được cung cấp bởi nhân viên của bạn hay có sẵn qua một dịch vụ miễn phí như Yahoo hay Hotmail thì vẫn bị giới hạn số lượng dữ liệu trong tài khoản. Bằng cách gửi nhiều email đến tài khoản của bạn, kẻ tấn công có thể tiêu thụ hết phần nhận mail và ngăn chặn bạn nhận được các mail khác.

Thế nào là tấn công từ chối dịch vụ phân tán ( DDoS )?

Trong tấn công từ chối dịch vụ phân tán ( DDoS ), một kẻ tấn công có thể sử dụng máy tính của bạn để tấn công vào các máy tính khác. Bằng cách lợi dụng những lỗ hổng về bảo mật cũng như sự không hiểu biết, kẻ này có thể giành quyền điều khiển máy tính của bạn. Sau đó chúng sử dụng máy tính của bạn để gửi số lượng lớn dữ liệu đến một website hoặc gửi thư rác đến một địa chỉ hòm thư nào đó. Tấn công này được được gọi là “phân tán” vì kẻ tấn công sử dụng nhiều máy tính trong đó có cả máy tính bạn để thực hiện tấn công Dos.

Làm thế nào để tránh vấn đề trên?

Thực sự không có một biện pháp cụ thể nào để tránh trở thành nạn nhân của Dos hay DDos. Tuy nhiên chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn vài bước với mục đích giảm bớt phần nào kiểu tấn công mà sẽ sử dụng máy tính của bạn đế đi tấn công máy tính khác.

* Cài đặt và duy trì phần mềm chống virus.
* Cài đặt tường lửa và cấu hình nó để giới hạn lưu lượng đến và đi từ máy tính của bạn.
* Làm theo các hướng dẫn thực hành an toàn về phân phối địa chỉ email của bạn.
* Dùng các bộ lọc email để giúp bạn quản lý lưu lượng không mong muốn.

Nhận biết các cuộc tấn công Dos và DDos

Không phải sự sập đổ hoàn toàn nào của dịch vụ cũng là kết quả của một tấn công từ chối dịch vụ. Có nhiều vấn đề kỹ thuật với một mạng hoặc với các quản trị viên đang thực hiện việc bảo trì và quản lý. Mặc dù thế nhưng với các triệu chứng dưới đây bạn có thể nhận ra tấn công DoS hoặc DdoS:

* Thực thi mạng chậm một cách không bình thường ( mở file hay truy cập website )
* Không vào được website bạn vẫn xem
* Không thể truy cập đến bất kỳ một website nào
* Số lượng thư rác tăng một cách đột biến trong tài khoản của bạn.

Nên làm gì nếu bạn nghĩ mình đang bị tấn công?

Cho dù bạn có xác định đúng tấn công DoS hoặc DdoS đi chăng nữa thì bạn cũng không thể xác định được nguồn hoặc đích của tấn công. Chính vì vậy bạn nên liên hệ đến các chuyên gia kỹ thuật để được hỗ trợ.

* Nếu bạn thấy rằng không thể truy cập vào chính các file của mình hoặc vào bất cứ website mở rộng nào từ máy tính thì bạn nên liên hệ với người quản trị mạng của mạng đó. Điều này có thể chỉ ra rằng máy tính của bạn hoặc mạng của tổ chức đang bị tấn công hay không.
* Nếu bạn thấy những vấn đề xảy ra trên chính máy tính của mình, thì bạn hãy liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ ( ISP ). Nếu có vấn đề, ISP có thể khuyên bạn có những hành động thích hợp.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=34926
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm hiểu về tường lửa ( Firewall )

Nếu ai cũng có thể truy cập vào máy tính của bạn ở bất kỳ thời điểm nào thì máy tính của bạn rất dễ bị tấn công. Bạn có thể hạn chế các truy cập từ bên ngoài tới máy tính và thông tin của bạn nhờ vào tường lửa.

Bạn hiểu như thế nào về tường lửa?

Tường lửa bảo vệ bạn chống lại những kẻ tấn công từ bên ngoài bằng cách chặn các mã nguy hiểm hoặc lưu lượng Internet không cần thiết vào máy tính hay mạng của bạn. Tường lửa có thể được cấu hình để khóa dữ liệu từ các vị trí cụ thể trong khi vẫn đảm bảo cho dữ liệu cần thiết có thể đi qua. Chúng thực sự quan trọng đối với những người thường xuyên kết nối Internet.

Tường lửa nào là loại tốt nhất?

Các tường lửa được chia ra thành hai dạng: phần cứng ( bên ngoài ) và phần mềm ( bên trong ). Trong đó cả hai đều có những nhược điểm và ưu điểm riêng. Quyết định lựa chọn loại tường lửa nào để sử dụng là khá quan trọng.

* Phần cứng - Điển hình là các tường lửa mạng, thiết bị mở rộng này được đặt giữa máy tính hoặc mạng và cáp hoặc modem DSL. Nhiều hãng và nhà cung cấp dịch vụ Internet ( ISP ) đưa ra các thiết bị “router” trong đó cũng bao gồm các tính năng tường lửa. Tường lửa phần cứng được sử dụng có hiệu quả trong việc bảo vệ nhiều máy tính mà vẫn có mức bảo mật cao cho một máy tính đơn. Nếu bạn chỉ có một máy tính phía sau tường lửa, hoặc nếu bạn chắc chắn rằng tất cả các máy tính khác trên mạng được cập nhật các bản vá miễn phí về virus, worm và các mã nguy hiểm khác thì bạn không cần mở rộng sự bảo vệ của một phần mềm tường lửa. Tường lửa phần cứng có ưu điểm trong việc phân chia các thiết bị đang chạy trên hệ điều hành riêng, vì vậy chúng cung cấp khả năng chống lại các tấn công. Tuy nhiên mặt hạn chế lớn đối với chúng là chi phí, mặc dù vậy nhiều sản phẩm cũng có giá thấp hơn 100$ ( thậm chí còn có sản phẩm thấp hơn 50$ ).

* Phần mềm - Một vài hệ điều hành có tường lửa kèm theo, nếu hệ điều hành của bạn không có thì cũng dễ dàng kiếm được từ một số cửa hàng máy tính hay hãng phần mềm hoặc các nhà cung cấp dịch vụ Internet. Vì có nhiều rủi ro trong việc download phần mềm từ Internet về một máy tính không được bảo vệ nên tốt nhất là bạn nên cài đặt tường lửa từ đĩa CD, DVD hoặc đĩa mềm.

Bạn biết cách thiết lập cấu hình?

Hầu hết các sản phẩm tường lửa thương mại, cả phần cứng và phần mềm đều được cấu hình để bảo đảm có thể được sự chấp nhận từ hầu hết người dùng. Với mỗi tường lửa khác nhau bạn cần phải đọc và hiểu tài liệu đi kèm để xác định các thiết lập mặc định trên tường lửa này có bảo đảm với nhu cầu của bạn hay không. Hơn nữa, bạn cũng phải để ý đến những cảnh báo về virus và worm hiện tại vì đôi khi nó bao gồm cả thông tin về những giới hạn có thể thực thi thông qua tường lửa.

Khi cấu hình đúng các tường lửa nó có thể chống được một số tấn công nhưng bạn cũng đừng nên chủ quan một số lỗi của bảo mật. Tường lửa có thể cho máy tính một sự bảo vệ khá chắc chắn nhưng không đảm bảo hoàn toàn là không thể bị tấn công. Cụ thể là một tường lửa với bảo vệ không chắc chắn không ngăn cản được chương trình độc hại chạy trên máy. Tuy nhiên, sử dụng một tường lửa chung với việc kiểm tra bảo vệ ( như một phần mềm diệt virus và các hoạt động máy tính an toàn ) thì sẽ có thể giúp máy tính chống lại được mọi cuộc tấn công.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=34956
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm hiểu về các bản vá

Khi các hãng phần mềm nhận ra được lỗ hổng trong sản phẩm của họ, họ thường xuyên đưa ra các bản vá để sửa những lỗ hổng đó. Hãy đảm bảo rằng bạn đã áp dụng ngay lập tức các bản vá có liên quan vào máy tính để hệ thống của bạn được bảo vệ.

Các bản vá là gì?

Cũng giống như miếng vá vải sử dụng để vá các lỗ hổng quần áo thông thường, bản vá phần mềm dùng để sửa các lỗ hổng trong chương trình phần mềm. Các bản vá được cập nhật để sửa một vấn đề nào đó hoặc một lỗ hổng nào đó bên trong một chương trình. Đôi khi thay vì phát hành một bản và, các hãng phần mềm sẽ cung cấp một phiên bản được nâng cấp, mặc dù chúng cũng chỉ có tác dụng như một bản vá.

Làm thế nào để tìm ra bản vá cần thiết để cài đặt?

Khi bản vá được phát hành, các hãng phần mềm thường đặt trên website của họ để người dùng có thể dowload. Việc cài đặt bản vá ngay lập tức khi là một việc làm quan trọng giúp bạn có thể bảo vệ máy tính của mình, tránh việc kẻ tấn công lợi dụng lỗ hổng của phần mềm để tấn công. Nhiều phần mềm sẽ tự động kiểm tra để nâng cấp hay nhiều hãng phần mềm cung cấp cho người dùng một tùy chọn nhận thông báo tự động về các nâng cấp qua một danh sách thư. Nếu tùy chọn tự động này được cung cấp thì chúng tôi khuyên bạn nên sử dụng chúng, còn nếu không thì bạn nên kiểm tra website của các hãng đều đặn để có thể nâng cấp kịp thời.

Bạn cũng phải bảo đảm chỉ download phần mềm hoặc bản vá từ các website mà bạn tin tưởng. Không nên tin vào các đường link bên trong email – vì kẻ tấn công có thể sử dụng email để đưa người dùng đến các website nguy hiểm, thay vì cài đặt các bản vá có khi bạn lại cài đặt nhầm virus. Bạn cũng cần cảnh giác, các bản vá được gắn vào bên trong file đính kèm của email cũng có thể là các virus.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=34975
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Bộ nhớ và lưu trữ - Phần 2: Các công nghệ lưu trữ mới

Trong phần một chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về một số công nghệ lưu trữ thông thường đang được ứng dụng rộng rãi. Tất cả công nghệ đó đều được ứng dụng trong các mạng điển hình ngày nay. Trong phần hai này chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho các bạn một số công nghệ mới vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi. Trong một số trường hợp các công nghệ này vẫn chỉ được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, một số trường hợp khác có trong sản phẩm đã có bán trên thị trường nhưng vẫn chưa khai thác hết khả năng tiềm tàng của công nghệ đó.

Bộ nhớ phân tử

Điều gì xảy ra đối với các công nghệ lưu trữ được giới thiệu trong bài trước? Rõ ràng là không có một vấn đề gì cả. Động cơ cho việc phát triển công nghệ lưu trữ mới là chúng ta muốn nhanh chóng vươn đến được giới hạn nhỏ và nhanh trong các thiết bị, trong khi đó người dùng luôn yêu cầu dung lượng và hiệu suất tốt hơn. Chính vì vậy các công nghệ mới càng cần phải được nghiên cứu và sớm đưa ra hơn. Trong phần này chúng tôi có giới thiệu đến công nghệ nhớ phân tử. Vậy công nghệ nhớ phân tử là gì? Điều gì làm cho bộ nhớ phân tử hấp dẫn đến vậy, câu trả lời là các phân tử rất nhỏ và có thể cung cấp một mật độ nhớ lớn hơn gấp nhiều lần so với các công nghệ hiện tại. Để giữ một bit trong một phân tử, theo lý thuyết điều này khá đơn giản. Bạn chỉ cần thêm hoặc bớt các electron trong mỗi phân tử đó. Điều khó khăn ở đây là việc đọc và ghi các bit dữ liệu đó như thế nào.

Để truy cập vào các phân tử để đọc và ghi, một số nhà nghiên cứu đã sắp xếp một mảng phân tử xung quanh các ống nano nhỏ có khả năng tích điện. Phương pháp này được thể hiện như trong hình 2. Một số chuyên gia nghiên cứu khác lại muốn gia công các bít dữ liệu thông qua sóng vô tuyến. Họ thực hiện điều đó bằng cách tạo một xung điện từ ở một tần số nào đó, xung này sau đó có thể thay đổi để nạp cho phân tử. Để đọc các bít dữ liệu, một xung tần số khác sẽ được tạo ra sau đó. Kết quả phân tử có xung thứ hai này có thể cho bạn biết rằng xung đầu tiên đã tương tác với phân tử, do vậy cho phép bạn lưu và sau đó đọc bit dữ liệu đó.

molecular-memory.jpg

Hình 1: Sơ đồ thiết bị nhớ phân tử​

Như những gì bạn có thể nhìn thấy ở trên là công nghệ bộ nhớ phân tử, công nghệ này có thể hứa hẹn sẽ cung cấp cho người dùng một mật độ nhớ lớn. Tuy nhiên, hiện nay bộ nhớ phân tử vẫn nằm trong các phòng thí nghiệm, vì vậy có lẽ chúng ta sẽ phải đợi đến vài năm tiếp theo để có thể thấy được công nghệ mới này sẽ mang đến những thuận lợi trong ứng dụng cho chúng ta như thế nào.

Bộ nhớ thay đổi pha

Không giống như bộ nhớ phân tử, bộ nhớ thay đổi pha hiện đã được đưa vào ứng dụng. Trong thực tế, công nghệ bộ nhớ thay đổi pha được đưa ra cách đây khoảng vài thập kỷ. Vào năm những năm 60, Stanford Ovshinsky đã phát minh ra cách để kết tinh các vật liệu vô định hình, các vật liệu không có cấu trúc cụ thể.

Như được đề cập đến trong phần 1, các CD-R và CD-RW làm việc bởi tia laser thay đổi độ mờ của một vùng nhỏ trên mỗi đĩa. Sự thay đổi tính mờ của vật liệu từ vô định sang kết tinh, và ngược lại. Đây cũng là công nghệ được phát minh bởi Ovshinsky. Ovshinsky là người đầu tiên chế tạo CD-RW vào năm 1970.

Sự khác nhau giữa công nghệ CD-R và công nghệ thay đổi pha là với bộ nhớ của công nghệ thay đổi pha, trạng thái kết tinh của một vùng nhỏ được thay đổi bằng một dòng điện chứ không phải tia laser. Khi không sử dụng tia laser để đọc và ghi dữ liệu thì chúng ta sẽ không làm mờ vùng nhưng lại xuất hiện điện trở suất ở vùng đó. Khi vùng đó thay đổi sang kết tinh hoặc vô định hình thì điện trở suất của vùng có thể đo được và dựa vào số điện trở suất người ta có thể phân biệt được đó là ‘1’ hay ’0’.

Bây giờ bạn có thể thấy được điện trở xuất khá giống với tính mờ đục. Một vật liệu có điện trở không cho phép nhiều điện tích để lưu thông qua nó và vật liệu mờ không cho phép nhiều ánh sáng xuyên qua nó. Bạn cũng nên biết rằng các vật liệu mờ trong thực tế có sự phản chiếu ánh sáng. Bạn có thể không nhận ra rằng các vật liệu có điện trở cũng phản chiếu. Đúng hơn , nó là trở kháng (impedance) của vật liệu sẽ phản chiếu điện. Điện trở là một khía cạnh của những gì tạo nên trở kháng; các thành phần khác là điện dung và điện cảm. Trong nhiều ứng dụng, việc hạn chế sự phản chiếu bởi trở kháng phù hợp là một vấn đề lớn trong thiết kế.

Bộ nhớ thay đổi pha có tiềm năng thay thế được bộ nhớ flash trong một vài năm tới. Vậy làm thế nào để có thể so sánh được với ổ flash? Giống như ổ flash, bộ nhớ thay đổi pha là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên ổn định làm cho nó phù hợp với cả chạy mã và lưu trữ dữ liệu. Năm 2006, IBM cùng với Macronix và Qimonda đã tuyên bố các kết quả nghiên cứu rằng họ đã thiết kế, xây dựng và minh chứng được thiết bị nhớ thay đổi pha đầu tiên. Thiết bị này nhanh hơn gấp 500 lần so với ổ flash trong khi sử dụng ít hơn một nửa công suất tiêu thụ. Thiết bị đầu tiên này cũng nhỏ gọn hơn các bộ nhớ flash.

Bộ nhớ Holographic

Nhiều người nghĩ rằng công nghệ holographic chỉ là mang tính lý thuyết, nhưng ngày nay nó đang dần trở thành một công nghệ hiện thực. Rõ ràng nó chưa được sử dụng rộng rãi và khá đắt đỏ. Tuy nhiên tình trạng này sẽ sớm được thay đổi bởi vì có rất nhiều ưu điểm để lưu trữ dữ liệu của bạn trên bộ nhớ công nghệ holographic này.

holographic-memory.jpg

Hình 2: Thiết bị nhớ công nghệ holographic​

Bộ nhớ holographic làm việc bằng cách chiếu hai chùng sáng dính liền vào một môi trường nhạy cảm với ánh sáng, một chùm dữ liệu và một chùm tham chiếu. Mẫu giao thoa kích thước ba chiều được tạo bởi hai chùm sáng này được lưu như một kỹ thuật tạo ảnh ba chiều. Mẫu giao thoa này có thể được đọc bằng cách chỉ chiếu sáng chùm tham chiếu vào mẫu giao thoa; chùm thu được sẽ giống với chùm dữ liệu gốc.

Kiểu bộ nhớ ba chiều này nghĩa là chúng ta có thể lưu và truy cập các trang bộ nhớ cùng một thời điểm. Nó cũng có nghĩa là các thiết bị nhớ holographic sẽ có một khả năng nhớ với số lượng lớn không tưởng.

Với các ưu điểm của nó, chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ sớm trở thành một công nghệ lưu trữ được sử dụng trong thị trường lưu trữ thứ ba. Mặc dù vậy tôi vẫn không tin chắc rằng các thiết bị holographic đó sẽ được phổ biến như các đĩa CD và DVD ngày nay.

RAM Manhêtô-điện trở (MRAM)

Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên Manhêtô-điện trở, cũng giống như bộ nhớ holographic, cũng đã được sử dụng hiện nay. Vào tháng 7 năm 2006, Freescale đã tuyên bố sản phẩm MRAM được sản xuất đầu tiên. Ngày nay, có một số sản phẩm MRAM đã được sản xuất cho sử dụng mặc dù chúng rất đắt và có mật độ nhớ thấp.

Giống như các ổ cứng, MRAM lưu dữ liệu trong môi trường lưu trữ từ tính, làm cho MRAM trở thành một phương tiện lưu trữ cố định. Đây là một tính năng quan trọng của MRAM, tính năng sẽ cho phép nó chạy đua với DRAM và SRAM. Mặc dù không nhanh như SRAM nhưng các chip MRAM cho phép đọc và ghi nhanh hơn DRAM. MRAM còn có một mật độ nhớ cao hơn nhiều so với SRAM. Điều này sẽ cho phép các kỹ sư thiết kế CPU tương lai có nhiều lựa chọn hơn.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=39816
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Bộ nhớ và lưu trữ - Phần 3: Các đặc điểm kỹ thuật của Bus

Trong hai phần đầu của loạt bài này chúng tôi đã viết về các công nghệ nhớ khác nhau gồm có: các ổ đĩa cứng, RAM, MRAM và kiểu lưu trữ dữ liệu holographic. Rõ ràng, công nghệ đã sử dụng cho việc lưu trữ dữ liệu vật lý chỉ là một phần trong những gì sẽ quyết định hiệu suất mà bạn thấy. Để hiểu một cách đầy đủ về hiệu suất của bộ nhớ, bạn phải hiểu cách bộ nhớ kết nối với CPU như thế nào và nó có thể được gia công ra sao.

Nhìn chung, bộ nhớ được kết nối đến CPU theo cùng một cách kết nối vật lý; thông qua bus hệ thống. Hãy quan sát vào bên trong bo mạch chủ máy tính, bạn sẽ thấy rất nhiều dây; đây chính là bus hệ thống của nó.

Các bus hệ thống khác nhau được định nghĩa với các đặc điểm kỹ thuật của hệ thống. Đặc điểm kỹ thuật của bus hệ thống sẽ gồm số dây, kích thước của dây, mỗi dây được sử dụng cho cái gì và bộ kết nối gì cần được sử dụng. Chi tiết kỹ thuật của bus hiện đại có các tính năng tiên tiến và khá phức tạp, với nhiều dây truyền phát dữ liệu theo cả hai hướng, nhiều dây cho việc điều khiển tín hiệu.

Một trong các chi tiết kỹ thuật của bus được sử dụng liên tục và lâu đời nhất là mạch tích hợp chéo hoặc I2C. Đó là một chi tiết kỹ thuật khá đơn giản, chỉ với hai dây hai chiều, một cho dữ liệu và một cho tín hiệu clock.

I2C.jpg

Một đặc tả của bus I2C. Vcd là điện áp, SDA là cho dữ liệu và SCL là cho tín hiệu clock

Mạch tích hợp chéo

Được phát triển vào đầu những năm 1980 bởi Philips Semiconductor, I2C được phát triển với tư cách là chuẩn tốc độ thấp cho việc truyền thông nối tiếp trên bo mạch. Ban đầu được phát triển để sử dụng trong máy thu hình, nó chỉ mất vài năm để được chấp nhận rộng rãi. I2C ngày nay vẫn được sử dụng trong nhiều ứng dụng như trong các màn hình máy tính.

Trước I2c, mỗi thiết bị đã sử dụng bởi một bộ vi điều khiển phải được kết nối trực tiếp đến bộ vi điều khiển đó. Vấn đề phát sinh với điều đó là nó sẽ làm tăng tính phức tạp của hệ thống, bạn phải tăng số lượng chân trên bộ vi điều khiển để giao tiếp với các thiết bị bổ sung.

Với việc bổ sung thêm bus và bo mạch, mỗi thiết bị có thể kết nối đến bus và bộ vi điều khiển chỉ cần kết nối đến bus. Những gì cần thiết là một tập các nguyên tắc để sử dụng bus như thế nào. Thậm chí bus ở thời buổi ban đầu này dường như rất giống với một mạng!

Phiên bản hiện nay của đặc tả I2C là 3.0. Phiên bản này hỗ trợ cho 4 mục tốc độ bus:

* Standard (Chuẩn) 100 kb/s
* Fast (Nhanh) 400 kb/s
* Fast mode plus (Nhanh hơn) 1 Mb/s
* High speed mode (Tốc độ caO:-) 3.4 Mb/s

Một khả năng thực sự thú vị của I2C được gọi là clock kéo dài. Clock kéo dài có nghĩa là gì, thiết bị slave có thể giữ tín hiệu clock. Điều này rất hữu dụng bởi khi thiết bị slave nhận một yêu cầu đọc, nó có thể giữ clock cho đến khi nó chuẩn bị gửi thông tin đến master và sau đó phóng thích clock khi nó đã sẵn sàng gửi.

Các công ty khác cũng đầu tư rất nhiều vào đầu những năm 1980 để phát triển chi tiết kỹ thuật bus của chính họ. IBM là một trong những công ty đó. Một trong những bus ban đầu của họ là Industry Standard Architecture hoặc ISA, bus. Khi được phát triển lên IBM đã gọi nó là XT bus.

Các đặc điểm kỹ thuật của IBM

Được phát triển vào năm 1981, bus 8 bit, ISA sau đó được thay đổi thành kiến trúc bus 16 bit. Bus ISA hỗ trợ cho các tốc độ lên đến 8Mb/s. Trong suốt những năm 80, ISA tiếp tục được phổ biến rộng rãi, nhưng nó chưa thực sự hoàn hảo. Một trở ngại lớn đối với ISA là đặc điểm kỹ thuật đã thiếu các thông tin chi tiết về định thời bus và các nguyên tắc điều khiển bus. Chính vì lý do đó, nhiều công ty đã tập trung vào cải thiện phiên bản bus ISA của chính họ với các chi tiết kỹ thuật độc nhất. Các phiên bản độc nhất của ISA này lại khó khăn trong việc tương thích và gây ra rất nhiều vấn đề hóc búa.

Một trở ngại khác đối với ISA là các cấu hình chuyên sâu cần phải kết nối với một thiết bị đến bus. Vào năm 1993, ISA Plug and Play đã được phát triển để giải quyết vấn đề này. Kiến trúc plug and play đã cho phép hệ điều hành của máy tính có thể thực hiện việc cấu hình thay vì người dùng. Điều này là một bước tiến lớn trong kiến trúc máy tính và cho đến ngày nay nhiều máy tính vẫn hỗ trợ ISA plug and play.

Vào cuối những năm 80, IBM đã cố gắng thay thế thế hệ ISA bus bằng kiến trúc kênh siêu nhỏ Micro Channel Architecture hoặc MCA, bus. Chi tiết kỹ thuật này đã cho ra bus 32 bit và việc cấu hình tự động.

Tuy MCA giải quyết được sự ràng buộc bus 16 bit của ISA và đã cho phép truyền thông lên đến tốc độ 40Mb/s, nhưng vẫn có một số bất thuận tiện đối với sự chấp thuận của công nghiệp đối với chi tiết kỹ thuật của bus này. Một trong những trở ngại đó là MCA là một công nghệ thuộc quyền sở hữu riêng, điều đó có nghĩa bất kỳ công ty nào muốn sử dụng MCA đều phải trả tiền cho IBM. Rõ ràng đây là điều mà công chúng không bao giờ thích.

Kiến trúc chuẩn công nghiệp được mở rộng

Sau khi IBM phát triển MCA một thời gian ngắn, các đối thủ cạnh tranh gồm có Compaq và HP đã bắt kịp họ với một giải pháp. Họ đã tổ chức và phát triển kiến trúc chuẩn công nghệ mở rộng hoặc EISA. Quả thực họ cũng muốn đặt lại tên khác với XT bus và ISA bus của IBM để không xâm phạm bản quyền thương hiệu của IBM.

Giống như MCA, EISA là một kiến trúc bus 32 bit. Nhưng, cũng giống như tên được ngụ ý của nó, EISA là một mở rộng của ISA bus trước đó, điều đó có nghĩa rằng nó tương thích được với các thiết bị ISA. Và mặt khác nó cũng là một chi tiết kỹ thuật mở. EISA đã hỗ trợ truyền thông song song ở tốc độ 8.33MB/s.

EISA-slots.jpg

Ba khe EISA

Chính do EISA là một kiến trúc mở nên nó nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong lĩnh vực CNTT. Tuy vậy sự phổ biến này không được lâu thì EISA sớm bị thay thế bởi PCI bus của Intel.

PCI bus hiện đang được thay thế bởi PCI Express hay PCIe. PCIe là một bus nối tiếp nhưng dáng vẻ của nó lại là bus song song. Sở dĩ nói như vậy là vì nó có một hub trên bo mạch chủ. Hub này có thể định tuyến việc truyền thông từ giữa các thiết bị. Nó cũng cho phép nhiều cặp thiết bị có thể truyền thông với nhau cùng một lúc, như vậy có thể coi chúng như cấu trúc song song. Chi tiết kỹ thuật PCIe cho phép truyền thông lên đến 8GB/s trong khi đó PCI chỉ cho phép đến 133MB/s.

Truy cập bộ nhớ trực tiếp

Như đã đề cập đến từ trước, các Bus máy tính hiện đại khá phức tạp. Sự phức tạp trong việc cải thiện hiệu suất là truy cập bộ nhớ trực tiếp hay viết tắt là DMA.

DMA cho phép các hệ thống phần cứng nhỏ (như các card đồ họa, card âm thanh) có thể truy cập trực tiếp vào bộ nhớ để đọc và ghi các hoạt động một cách độc lập với CPU. Rõ ràng, lúc này CPU vẫn được yêu cầu để khởi tạo phiên liên lạc, nhưng DMA loại trừ những truy cập không cần thiết mà CPU phải quan tâm trong các phiên liên lạc với bộ nhớ của thiết bị, như vậy CPU có thể được sử dụng cho các nhiệm vụ khác.

Một trong những chi tiết kỹ thuật mới hơn là AMD-backed HyperTransport, chi tiết kỹ thuật này được phát triển bởi HyperTransport consortium. HyperTransport hỗ trợ cho tốc độ truyền thông cao hơn và các tính năng nâng cao như DDR (Double Data Rate). DDR cho phép các thiết bị có thể gửi dữ liệu trên cả hai sườn lên và xuống của chu kỳ xung nhịp (xung clock). Chính vì vậy mà nó có thể tăng gấp đôi được thông lượng.

Một tính năng thú vị khác của HyperTransport là nó có thể hỗ trợ cho cả hai loại ghi lệnh. Một lệnh đã sử dụng cho DMA được được biết đến như lệnh ghi bổ sung dữ liệu. Không giống như lệnh ghi không bổ sung dữ liệu, lệnh ghi bổ sung dữ liệu không yêu cầu tín hiệu xác nhận từ thiết bị mục tiêu. HyperTransport có thể được coi như một mạng. Trong thực tế nó cũng có thể được sử dụng để kết nối nhiều máy tính với nhau.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=40513
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tiết kiệm bằng cách dùng ổ cứng dung lượng lớn

Giữa năm nay, công ty Điện tử Samsung – nhà sản xuất có tiếng về CNTT và sản phẩm điện tử dân dụng kỹ thuật số vừa trình làng chiếc ổ cứng F1 với dung lượng lên tới 1 Terabyte (TB).

Đây là ổ đĩa cứng đạt mật độ ghi cao nhất thế giới, đáp ứng nhu cầu lưu trữ ngày càng tăng của người sử dụng.

Khoảng 4-5 năm về trước, máy ảnh kỹ thuật số, máy nghe nhạc, internet… còn là những thứ xa xỉ thì những ổ cứng có dung lượng 30, 40, 60 Gigabite (GB) có thể thỏa mãn người dùng máy tính. Nhưng hiện nay, người nào cũng có thể sở hữu những chiếc máy nghe nhạc xinh xắn hay những chiếc máy ảnh kỹ thuật số có thể lưu được hàng trăm bài hát, hàng nghìn bức ảnh khác nhau.

Tuy nhiên, để lưu giữ và tích luỹ thêm những bài hát mình yêu thích, những khoảnh khắc đáng nhớ trong các bức ảnh, videoclip,… hay tải vô vàn những thông tin mà bạn cập nhật được hàng ngày thì những thiết bị giải trí kỹ thuật số cá nhân không thể đáp ứng được, chỉ có cách là lưu vào ổ cứng. Việc lưu trữ dữ liệu trên ổ cứng máy tính có độ an toàn cao hơn và khả năng phục hồi dữ liệu cũng lớn hơn so với các phương tiện lưu trữ bên ngoài như CDRom hoặc ổ nhớ Flash USB. Với một kho ảnh, bài hát, thông tin,... những chiếc ổ cứng có dung lượng như chúng ta đang dùng quá “chật chội”, khi mà người sử dụng vẫn chưa có thói quen “dọn dẹp” ổ cứng của mình.

Bên cạnh nhu cầu lưu trữ cá nhân thì nhu cầu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp… cũng ngày càng tăng. Hàng nghìn file dữ liệu không thể chứa đựng được hết trong những ổ cứng có dung lượng 20 GB, 30 GB hay 60 GB. Ngoài ra, các hệ điều hành máy tính ngày càng đòi hỏi nhiều dung lượng hơn, như Windows 98 chỉ cần dung lượng 1 GB, Windows Xp cần 10 GB thì Windows Vista đòi hỏi tối thiểu là 20 GB.

Nắm bắt được nhu cầu đó, các nhà sản xuất liên tục nghiên cứu và phát triển công nghệ lưu trữ để cho ra đời các dòng sản phẩm có dung lượng lớn, tốc độ truy xuất dữ liệu nhanh, độ an toàn cao mà chi phí ngày càng thấp.

Trên thị trường, những ổ cứng có dung lượng “mấy mươi” GB đang dần ít xuất hiện, chiếm phần lớn thị phần là những sản phẩm có dung lượng 120 GB, 160 GB, 200 GB, 250 GB. Giá của các sản phẩm này cũng khiến người mua hài lòng, dung lượng càng lớn thì giá cả càng tiết kiệm. Chẳng hạn như thay vì mua ổ cứng 80 GB SATA II của Samsung với giá 49 USD, chỉ cần thêm 12 USD bạn đã có thể sở hữu một chiếc ổ cứng với dung lượng gấp đôi – Samsung 160 GB SATA II.

Những dòng sản phẩm với dung lượng từ 320 lên đến 1000 GB cũng đã xuất hiện trên thị trường. Những sản phẩm này đã bắt đầu tạo nên xu hướng tiêu dùng mới trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, nó vẫn còn khá mới mẻ.

Nhưng chắc chắn rằng với tốc độ phát triển vũ bão như hiện nay, trong tương lai không xa, những sản phẩm như F1 của Samsung, với mức độ tiêu thụ năng lượng thấp nhất và khả năng hoạt động hoàn hảo sẽ dần thay thế những ổ cứng dung lượng 3 chữ số.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=2&Cat_Sub_ID=0&news_id=40554
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Có nên tắt máy tính mỗi tối?

Đây là một câu hỏi thường gặp. Câu trả lời là “Nên” vì những lý do sau:

Chi phí

Không nên máy tính bật khi không sử dụng đến. Lý do chính là sự lãng phí đáng kể năng lượng. Công suất 450 watt tương đương một bóng đèn lớn, và hãy tưởng tượng sự tiêu thụ điện năng của một bóng đèn 450 watt suốt 24 giờ mỗi ngày.

Tờ Computing Unplugged ước tính rằng một chiếc PC thông thường với bộ nguồn công suất cao, một card video loại tốt và một vài ổ đĩa cứng có thể tiêu tốn thêm của bạn mỗi tháng từ 10-15 USD nếu nó được bật suốt 24/7.

Hãy lưu ý rằng, công nghệ sản xuất thiết bị điện đã thay đổi và đa phần các thiết bị hiện nay được thiết kế để có thể bật và tắt thường xuyên.

Sự hao mòn thiết bị

Một vấn đề cần nhắc tới khác là sự hao mòn và giảm chất lượng theo thời gian của những linh kiện hoặc thiết bị, chẳng hạn ổ đĩa, khi hoạt động liên tục 24 giờ một ngày.

Giống như ở chiếc xe, ngoài vấn đề chi phí nhiên liệu, bạn cũng biết rằng có một số bộ phận sẽ mòn dần, chẳng hạn động cơ hay vòng bi. Trong ổ đĩa cứng hoặc quạt gió ở máy tính của bạn cũng có một số linh kiện như vậy.

Khởi động lại hệ thống

Bên cạnh đó, hệ điều hành cũng là một nhân tố phải cân nhắc. Khác với các hệ điều hành máy chủ đắt tiền, các hệ điều hành dành cho máy tính người dùng (như Windows XP) không nhằm mục đích chạy suốt ngày hoặc suốt tuần mà không cần khởi động lại.

Nhiều tác vụ ghi và lưu trong các hệ điều hành hiện nay được diễn ra trong quá trình tắt máy. Điểm quan trọng bạn cần lưu tâm là hoàn tất quá trình tắt máy để đảm bảo rằng các thiết lập được ghi vào OS và registry.

Khởi động lại để cập nhật hệ thống

Hãy bàn thêm về cập nhật hệ thống. Mọi người đều biết rằng các bản cập nhật là rất quan trọng đối với hệ thống máy tính. Nhiều người kích hoạt chế độ Automatic Updates của Windows XP và nhiều phần mềm khác. Tuy nhiên, có lẽ không phải tất cả đều biết rằng đa phần các bản cập nhật này chỉ phát huy tác dụng khi bạn khởi hoạt lại hệ thống, thậm chí ngay cả khi chúng không nhắc bạn phải làm điều này.

Do đó nếu bạn dùng máy tính cả tháng mà không khởi động lại, có thể việc tải các bản cập nhật sẽ trở nên không hiệu quả. Một lưu ý khác, nếu bạn không khởi động lại hệ thống, và sau một tháng trời, đột nhiên bạn nhìn thấy màn hình xanh hoặc vấn đề nào đó khi khởi động, bạn sẽ phải tìm hiểu xem những gì bạn đã làm trong cả một tháng qua, một điều gần như không thể. Nếu bạn tắt máy tính mỗi đêm, mọi việc sẽ đơn giản hơn và vấn đề có thể dễ dàng được khắc phục hơn.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=40973
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
Phân biệt thẻ nhớ thật và giả

Nhiều thiết bị dùng thẻ nhớ ra đời kéo theo thị trường thẻ nhớ ngày càng phong phú về nhãn hiệu và chủng loại, cũng như không tránh khỏi cảnh “vàng thau lẫn lộn”. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn một số kinh nghiệm phân biệt thẻ nhớ thật và giả của một số nhãn hiệu thông dụng hiện nay.

Trong thực tế hiện chưa có phần mềm nào giúp kiểm tra được đâu là loại thẻ thật, vì vậy bạn chỉ còn cách xem xét kỹ chúng một cách thủ công (bằng mắt và qua kiểm tra tính năng hoạt động của chúng) để biết:

- Thẻ nhớ loại 1GB của hãng SanDisk SD Card: thẻ giả không có phần khía nhỏ ở cạnh bên dưới còn thẻ thật thì có chi tiết này.

SanDisk-CF.jpg

Thẻ nhớ 2GB SanDisk CF: hình bên trái là thẻ giả, bên phải là thật

- Thẻ nhớ 2GB SanDisk CF: phần chữ SanDisk màu đỏ của thẻ giả mờ hơn thẻ thật, và thẻ giả lại có chữ TM cạnh biểu tượng CF ở góc bên phải của thẻ trong khi thẻ thật không có. Thêm nữa, thẻ giả không có số serial ở phía cuối cạnh thẻ. Tinh vi hơn nữa bạn có thể nhận thấy hộp đựng thẻ giả không có hiệu ứng ba chiều khi có ánh sáng thích hợp như hộp thẻ thật.

Cũng với loại thẻ 2 GB giả mạo chuẩn CF của Sandisk, bạn có thể nhận thấy chất lượng in của nhãn trên mặt thẻ rất tồi và sự xộc xệch của nhãn. Chất lượng in cũng như lề lối của các chữ in trên một cạnh thẻ giả cũng không ngay ngắn.

Một điểm lưu ý nữa là sách hướng dẫn sử dụng thẻ SanDisk giả cũng khác so với sách hướng dẫn của loại thẻ thật.

- Thẻ nhớ 2 GB Pro Duo của hãng Sony: Có thể phân biệt rõ ràng là thẻ giả chất lượng in rất kém và không có những chỗ đẩy ra hay đẩy vào tương tự như trong thẻ thật. Với những chỗ khía lồi lõm trên thẻ thật thì việc phân biệt đâu là thẻ giả không khó khăn gì.

Source:
Mã:
http://quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=41046
 

Sleeping Dragon

Diêm Vương
4/4/08
899
2
35
Ngoạ Long cương
MUSVN Đồng
0
Points
0
9 điều cần biết về phân mảnh ổ cứng

Để cho máy tính chạy với tốc độ tối đa, cần thường xuyên bảo dưỡng. Đặc biệt khi chúng nằm trong hệ thống mạng nhiều máy. Dưới đây là 9 điều về phân mảnh ổ cứng và giải pháp để tăng cao hiệu suất cho máy tính.

1. Ổ cứng là phần chậm nhất trong hệ thống máy

Giả sử bạn đang chạy bộ vi xử lý 2.5 GHz có nghĩa là có 2,5 tỉ thao tác trong mỗi giây. Trong khi một ổ cứng có số vòng quay 7200 vòng một phút hay 120 vòng mỗi giây tương đương 120 Hz. Điều ngày có nghĩa là bộ vi xử lý của bạn nhanh hơn 20 triệu lần so với ổ cứng. Khi ổ cứng chạy chậm sẽ tạo ra những tác vụ không cần thiết, cả hệ thống sẽ bị trì trệ hẳn.

2. Phân mảnh trong ổ cứng gây nhiều hiệu quả xấu

Phân mảng ổ sẽ dẫn tới sự rời rạc, máy hay bị treo, dữ liệu bị lỗi, file bị hỏng, chạy rất chậm. File bị phân mảnh sẽ khó và lâu sao chép hơn.

3. Cài cho máy tính một công nghệ cải thiện tốc độ

Ví dụ công nghệ mới I-FAAST (Intelligent File AccessAcceleration SequencingTechnology) trong chương trình Diskeeper 2008 giúp xâu chuỗi các file của bạn. Giúp bạn củng cố dung lượng trống, chống phân mảnh với, tăng tốc độ truy cập tới những file bạn hay sử dụng tới 80%.

4. Máy chủ thường xuyên bị ảnh hưởng

Cơ chế đơn giản RAID và SAN không sửa được lỗi phân mảnh là file hệ thống ở điểm đầu của ổ cứng. Các phân vùng đĩa lớn với các hoạt động đọc/ghi cao dẫn tới tỉ lệ phân mảnh lớn, làm cho hệ thống RAID và SAN làm việc quá tải. Hiệu quả của RAID và SAN có thể làm giảm bớt một số tác động vật lý của phân mảnh, nhưng không làm nó hết hoàn toàn. Bạn sẽ cần mua nhiều thiết bị hơn để bù vào. Sớm hay muộn, hệ thống của bạn sẽ nghẽn lại và làm chậm tốc độ máy chủ.

5. Điều hành hệ thống không bị ngắt đoạn

Công nghệ InvisiTasking mới khiến phần mềm được ẩn đi. Diskeeper 2008 với InvisiTasking sẽ hoạt động ẩn trên nền Window. Hệ thống sẽ liên tục được cải thiện mà không cần bất kỳ thao tác xử lý hay tác động nào.

6. Chống phân mảnh mặc dù dung lượng trống còn ít

Mục đích của việc chống phân mảnh là khôi phục lại tốc độ và hiệu suất của máy. Một tiện ích chống phân mảnh bắt buộc phải hoạt động tốt trong môi trường có dung lượng trống bị giới hạn, vì các phân vùng với dung lượng trống rất nhỏ cần được hỗ trợ nhiều nhất. Diskeeper 2008 xử lý hàng triệu mảnh vỡ và hoạt động kể cả với 1% dung lượng trống trên đĩa.

7. Ngăn chặn sự phân mảnh trước khi nó xảy ra

Frag Shield 2.0 trong Diskeeper 2008 là công nghệ tự động bảo vệ chống lại sự phân mảnh của các file hệ thống. Frag Shield 2.0 ngăn ngừa sự phân mảnh gây ra đứt đoạn trong hệ thống

8. Tự động chống phân mảnh mang lại sức sống mới cho hệ thống

Giữ cho hệ thống chạy với một tốc độ ổn định nhất và loại trừ những vấn đề liên quan tới phân mảnh. Chống phân mảnh toàn hệ thống sẽ giúp tăng thêm 2-3 năm tuổi thọ cho phần cứng.

9. Phân tích biểu hiện của hệ thống mạng

Hiệu suất tồi trên một máy cùng mạng có thể là lỗi gây ra mạng chậm. Disk Performance Analyzer for Networks là tiện ích miễn phí này sẽ quét sự phân mảnh trên các máy được nối mạng. Chương trình này sẽ cung cấp báo cáo một cách toàn diện cho bạn thấy tốc độ hệ thống của mình đã được cải thiện như thế nào sau khi được chống phân mảnh hoàn toàn.

Diskeeper 2008 là chương trình duy nhất tự động khắc phục phân mảnh hoàn toàn. Nó hoạt động ẩn trên nền hệ thống và tự thay đổi những chiến thuật chống phân mảnh khác nhau phù hợp với nhu cầu của từng phân vùng đĩa riêng. Tích hợp dụng cụ chống phân mảnh mới, Diskeeper 2008 khôi phục hiệu suất ổ đĩa chỉ với 1% dung lượng trống. Giải phóng sự chậm chạp, tắc nghẽn, và đổ vỡ hệ thống do phân mảnh.

Source:
Mã:
http://www.quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=45092
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm hiểu về màn hình laptop


Nếu muốn mua máy tính xách tay nhưng không có nhiều kinh nghiệm về display thì những thông tin dưới đây có thể sẽ giúp ích cho bạn. Lời khuyên chung là cần tìm hiểu về điều kiện bảo hành với chấm màn hình của từng hãng.

Công nghệ được sử dụng phổ biến trong các dòng máy tính xách tay trên thị trường hiện nay là tinh thể lỏng (LCD - Liquid Crystal Display). Kích thước và độ phân giải là các yếu tố phân biệt giữa các sản phẩm. Độ phân giải trên LCD được xác định bằng các điểm chấm (pixel). Mỗi điểm được cấu thành bởi 3 chấm phụ: đỏ, xanh lá cây và xanh nước biển. 3 màu này kết hợp với nhau để tạo thành màu hoàn chỉnh cần hiển thị.


laptop.jpg

Ngày càng có nhiều người mua máy tính xách tay nhưng không phải ai cũng có kinh nghiệm lựa chọn màn hình tốt. Ảnh: N.H.


Độ phân giải là một “thước đo” khả năng hiển thị. Ví dụ như một màn hình XGA 14.1” tiêu chuẩn sẽ có độ phân giải 1024 x 768. Trong đó, 1024 là số điểm chấm theo chiều ngang, 768 là số điểm chấm theo chiều dọc.

Với model SXGA 14.1” tiêu chuẩn thì độ phân giải là 1280 x 1024. Nếu một hình ảnh ở trên XGA có kích thước 20 x 10 pixel, thì trên SXGA, nó sẽ có kích thước tương đối nhỏ hơn, mặc dù số điểm chấm được sử dụng để hiển thị là như nhau. Điều này giúp cho SXGA hiển thị được nhiều hình ảnh hơn, tạo nên cảm giác “rộng hơn” so với XGA.

Hầu hết màn LCD hiện nay sử dụng công nghệ TFT (Thin-Film Transistor), hay còn gọi là hiển thị chủ động (active matrix display). Tên gọi này để phân biệt với hiển thị bị động (passive matrix display). Sản phẩm TFT sử dụng một bóng bán dẫn (transistor) riêng biệt tại mỗi điểm chấm phụ, được kích hoạt bởi dòng điện rất nhỏ, giúp tốc độ hiển thị màu nhanh hơn. Do đó, với màn hình hiển thị chủ động, các thay đổi về màu sắc hay hình ảnh sẽ chân thực và nhanh hơn nhiều so với các thiết bị bị động.

Nếu bóng bán dẫn nối tắt hoặc hở sẽ dẫn đến một điểm chấm không có khả năng hiển thị màu sắc bình thường, gọi là điểm chết (dead pixel) và nó có thể bị sáng, chỉ hiển thị một màu như màu đỏ, màu xanh, màu trắng hoặc mất hẳn, chỉ nhìn thấy màu đen.

Trong quá trình sản xuất, rất khó để có thể xác định một bóng bán dẫn bị hỏng hay không. Thường chỉ khi sản phẩm "đã ra lò" hoàn chỉnh người ta mới xác định được nó có điểm chết hay không. Nếu các nhà sản xuất LCD buộc phải loại bỏ thiết bị có điểm chết, dù chỉ là một điểm, chi phí chế tạo và giá bán của màn hình LCD có thể đã đội lên rất cao.

Vậy tiêu chuẩn của số điểm chết được chấp nhận với mỗi màn hình bao nhiêu là vừa? Câu hỏi này phụ thuộc vào mỗi nhà sản xuất riêng biệt. Ví dụ như với Apple, không có một câu trả lời cụ thể là bao nhiêu điểm chấm hỏng sẽ được bảo hành. Hoặc với Lenovo, số lượng này được quy định tùy theo loại màn hình được sử dụng, nhìn chung rơi vào khoảng 5 - 6 chấm.

Mã:
 http://vnexpress.net/Vietnam/Vi-tinh/Kinh-nghiem/2007/12/3B9FDBF8/
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Nguồn Gốc Chuột Máy TÍnh


Khi phát minh ra thiết bị điều khiển con trỏ màn hình tách biệt với bộ phím mũi tên, người ta thấy nó có dây nối như cái đuôi dài, thân tròn nên gọi đó là "mouse" và sau này mang tên rất "khoa học" Manually-Operated User-Selection Equipment.

Mã:
 http://vnexpress.net/Vietnam/Vi-tinh/2008/02/3B9FEECB/
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Hãy cẩn thận trước khi kích "I accept"


Cảnh báo bạn có thể cho phép các công ty trực tuyến cài phần mềm gián điệp vào máy tính của bạn hoặc sử dụng các hình ảnh cá nhân của bạn vào mục đích thương mại.

Bao nhiêu lần bạn đã click vào "I Accept", hoặc "Tôi đồng ý/ chấp nhận" với quy định và điều kiện sử dụng trên một trang Web mà không đọc khế ước trước đó?

Nay Tiến sĩ Sal Humphreys - một chuyên gia các cộng đồng Internet từ Đại học Công nghệ Queensland (Australia
- cảnh báo bạn có thể cho phép các công ty trực tuyến cài đặt phần mềm gián điệp vào máy tính của bạn hoặc sử dụng các hình ảnh cá nhân của bạn vào các mục đích thương mại. Tiến sĩ Humphreys nói nhiều người không nhận thức rõ dấu hiệu về quyền riêng tư và các quyền sở hữu trí tuệ của mình khi click "bừa" vào điều khoản chấp nhận Accept mà không hề đọc qua nội dung đó là gì.

"Với việc mù quáng chấp nhận điều kiện và quy định - mà được công nhận như các hợp đồng hợp pháp, người sử dụng có thể đồng ý với những thứ mà bình thường họ không thể chấp nhận", bà nói. "Ngư�
�i dùng có xu hướng lờ đi các hợp đồng họ đã "chấ
nhận" cho đến khi có điều gì đó xảy ra ngoài sự mong đợi".

Bà Humphreys nhấn mạnh rằng thế giới đang thay đổi từ một xã hội được các chính phủ điều chỉnh sang một xã hội do các công ty hoạt động vì lợi nhuận kiểm soát.

Lấy ví dụ trò chơi trực tuyến nhiều người tham gia World of Warcraft (WoW) có hàng triệu người chơi trên thế giới. “Hợp đồng của WoW tuyên bố rằng nhà phát triển có thể truy cập máy tính của người sử dụng và được phép cài đặt phần mềm gián điệp vào ổ cứng để theo dõi họ làm gì", bà nói. “Nhà phát triển phần mềm tuyên bố phần mềm gián điệp, phải được cài đặt để game hoạt động, giúp ngăn ngừa gian lận và chợ đen bán tiền trong game nhưng ở đó có sự thâm nhập vào quyền riêng tư mà người chơi có lẽ đã đồng ý một cách vô thức”.

Bà Humphreys nói nhiều nhà xuất bản trực tuyến khuyến khích người sử dụng tạo nội dung của họ nhưng các hợp đồng lại tuyên bố rằng bất cứ nội dung nào được người dùng tạo ra trong game hoặc được đăng trên trang Web của công ty trở thành tài sản của nhà xuất bản.

"Trong các điều khoản và điều kiện hiện tại của mạng xã hội Facebook tuyên bố rằng tất cả nội dung của người sử dụng đăng trên trang Web có thể được công ty sử dụng cho các mục đích bao gồm quảng cáo, và có thể được giữ trong lưu trữ thậm chí sau khi người sử dụng đã xoá đi khỏi hồ sơ của họ", bà nói.

Tiến sĩ Humphreys nói các công ty trực tuyến thường không chịu trách nhiệm về những đối xử của mình với người sử dụng.

"Hợp đồng của mạng xã hội Second Life nói rằng người sử dụng sở hữu các quyền IP để tạo thế giới của riêng mình nhưng họ có thể bị đuổi khỏi trò chơi không vì lý do gì và nếu họ sở hữu quá nhiều tài sản ảo có giá trị bằng nhiều tiền thật, họ có thể mất tất cả", bà nói.

Mã:
 http://quantriman.com/view.asp?Cat_ID=9&Cat_Su_ID=8&news_i=43652
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Phân Loại Các Giao Thức


Trước hết bạn phải nắm rõ mô hình tham chiếu OSI và mô hình TCP/IP, chức năng cơ bản của từng tầng và tiếp theo nghiên cứu các giao thức cơ bản trong từng tầng của mô hình. Có như vậy bạn mới tránh được nhầm lẫn giữa các tầng với nhau, giữa các mô hình với nhau. Dưới đây là một số giao thức mạng được tham chiếu tới mô hình OSI Trước hết bạn phải nắm rõ mô hình tham chiếu OSI và mô hình TCP/IP, chức năng cơ bản của từng tầng và tiếp theo nghiên cứu các giao thức cơ bản trong từng tầng của mô hình. Có như vậy bạn mới tránh được nhầm lẫn giữa các tầng với nhau, giữa các mô hình với nhau. Dưới đây là một số giao thức mạng được tham chiếu tới mô hình OSI


Bộ giao thức TCP/IP


Tầng ứng dụng :

File Transfer Protocol (FTP)
• Hypertext Transfer Protocol (HTTP)

• Simple Mail Transfer Protocol (SMTP)

• Domain Name System (DNS)

• Trivial File Transfer Protocol (TFTP)

• POP3

• Telnet

• IMAP

Tầng giao vận:

• Transport Control Protocol (TCP)

• User Datagram Protocol (UDP)

Tầng mạng:


• Internet protocol ( IP )

• Internet Control Message Protocol (ICMP)


Bộ giao thức IPX/SPX



Tầng ứng dụng:


• Service Advertisement Protocol (SAP)

• Get Nearest Server (GNS)

Tầng giao vận:


• Sequence Packet Exchange (SPX)

Tầng mạng :

• Internet Packet Exchange (IPX

• Novell Routing Information Protocol (RIP)

• Novell Link State Protocol (NLSP)

Bộ giao thức AppleTalk


Tầng ứng dụng:


• AppleTalk Filing Protocol (AFP)

Tầng trình diễn:


• AppleTalk Data Stream (ADSP)

• Zone Information (ZIP)

• Session Protocol (ASP)

• Printer Access Protocol (PAP)

Tầng giao vận:

• AppleTalk Transaction Protocol (ATP)

• Name Binding Protocol (NBP)

• Routing Table Maintenance Protocol (RTMP)

• Echo Protocol (AEP)

Tầng mạng:

• Datagram Delivery Protocol (DDP).

Trên đây mới chỉ là một số giao thức cơ bản, chưa thật đầy đủ. Bạn

nên tìm đọc tài liệu để nắm kỹ hơn về mô hình OSI cũng như các bộ giao thức khác, điều đó sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giao thức mạng nói riêng và mạng máy tính nói chung.

Mã:
 sdc.ud.edu.vn


Nhấn Thank nếu bạn thấy vừa ý nhé!:->:->
 

Mr.NamThanh

Linh Hồn Quỷ Đỏ
7/4/08
771
0
Hà Nội
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm Hiểu Về FAT32


Trong những bài viết về Windows 98 - Memphis trên PC World thời gian gần đây, hẳn các bạn đã nghe nói nhiều về một kỹ thuật mới được Microsoft đưa vào sử dụng. Đó chính là FAT32. Tuy nhiên, ít người biết rằng FAT32 đã được Microsoft âm thầm đưa ra trong một phiên bản trước của Windows 98: đó là OEM Service Release 2 hay còn gọi tắt là Win95 OSR2. Vậy FAT32 là gì và nó ảnh hưởng thế nào đến máy tính của bạn? Mời các bạn theo dõi bài viết sau


FAT 32 là gì và lợi ích của nó?


Như các bạn đã biết, đơn vị lưu trữ nhỏ nhất trên đĩa là sector gồm 512 byte. Để quản lí đĩa và theo dõi sector nào đã sử dụng và sector nào còn trống có thể cấp phát cho các file mới, DOS sử dụng một cấu trúc gọi là bảng FAT. Đây là từ viết tắt của "File Allocation Table" dịch sang tiếng Việt là "Bảng cấp phát file". Bảng FAT bao gồm các thẻ dữ liệu về mỗi sector trên đĩa. Con số đi sau FAT chỉ kích thước của FAT. FAT16 có 216= 65536 thẻ dữ liệu còn FAT32 có 232= 4294967296 thẻ.

Khi sử dụng FAT16, bạn chỉ có 65536 thẻ để quản lí các sector trên đĩa. Vì vậy nếu đĩa cứng lớn hơn 32MB hay nói cách khác là có nhiều hơn 65536 sector thì FAT16 không thể quản lí hết từng sector một. Do đó từ phiên bản DOS 4.0 Microsoft đã sử dụng giải pháp cluster. Cluster là một nhóm sector được FAT16 dùng chung một thẻ dữ liệu để quản lí như một sector duy nhất. Bây giờ khi cấp phát đĩa cho một file mới bạn sẽ phải cấp toàn bộ một cluster chứ không thể cấp riêng một sector nữa. Bảng sau đây sẽ cho biết kích thước cluster tuỳ vào ổ cứng của bạn.

Kích thước paritition Kích thước cluster

<128MB 2KB
128MB-256MB 4KB
256MB-512MB 8KB
512MB-1GB 16KB
1GB-2GB 32KB​


FAT16 không hỗ trợ các paritition lớn hơn 2GB.

Ví dụ: để kích thước cluster nhỏ hơn 8K trong FAT16, bạn phải đặt kích thước của paritition < 512 MB

Windows 95 và mọi phiên bản của DOS đều quản lí đĩa cứngcủa bạn theo FAT16. Sự xuất hiện của các đĩa cứng ngày càng lớn hơn sẽ dẫn tới kích thước cluster lớn hơn và điều này tương đương với lãng phí đĩa. Bởi vì nếu kích thước cluster trên đĩa cứng 1.2GB của bạn là 32KB, khi cấp phát đĩa cho 1 file chỉ gồm 1 byte bạn vẫn phải cấp cho nó toàn bộ 1 cluster. Do đó bạn sẽ lãng phí 32KB-1byte còn lại. Chỗ còn lại này (gọi là slack) không thể sử dụng được cho các file khác.

Sự ra đời của FAT32 đã cải thiện được tình hình tồi tệ trên: nó hỗ trợ các paritition lớn tới 2Terabytes, và kích thước cluster nhỏ hơn 4 K với mọi parition nhỏ hơn 8 GB. Đó là vì nó có tới 4294967296 thẻ dữ liệu để quản lí đĩa.

Bảng sau là kích thước cluster mặc định cho FAT32


Kích thước partition
Kích thước cluster
<260 MB 512 bytes
260 MB - 8 GB 4 KB
8 GB - 16 GB 8 KB
16 GB - 32 GB 16 KB
>32 GB 32 KB​


Lưu ý rằng kích thước nhỏ nhất của mỗi parritition sử dụng FAT32 được tạo bằng FDISK là 512MB, vì vậy bạn không thể FDISK rồi FORMAT một đĩa sử dụng FAT32 mà nhỏ hơn 512MB được. Tuy nhiên bạn có thể sử dụng phần mềm Paritition Magic để chuyển đổi một ổ đĩa đang sử dụng FAT16 sang sử dụng FAT32.

Điểm yếu của FAT32

Nếu FAT32 có lợi ích nhiều như vậy, tại sao bây giờ Microsoft mới đưa ra sử dụng. Đó là vì nếu đĩa cứng của bạn có kích thước cluster càng nhỏ thì máy càng chậm. Điều này đúng với mọi hệ điều hành, mọi dạng FAT. Lí do là với kích thước cluster nhỏ, các file sẽ bao gồm nhiều cluster hơn và do đó việc đọc ghi sẽ lâu hơn. Chẳng hạn trong hệ thống có kích thước cluster là 16KB, một file ảnh 320KB sẽ bao gồm 20 cluster, việc mở file này sẽ phải thực hiện 20 lần thao tác đọc cluster. Nhưng nếu kích thước cluster là 2KB thì file đó sẽ bao gồm 160 cluster và việc mở file sẽ phải thực hiện tới 160 lần thao tác đọc cluster. Do đó các ứng dụng có nhiều tác vụ đọc ghi đĩa sẽ chậm đi rõ rệt. Thế nhưng nếu bạn sử dụng cluster lớn hơn thì slack cũng lại lớn dẫn đến lãng phí đĩa cứng.

Trong trường hợp sử dụng cùng kích thước paritition và cluster, các thử nghiệm cho thấy FAT32 và FAT16 cho tốc độ xấp xỉ nhau (chênh lệch trong vòng 2%)

Vậy là bạn phải lựa chọn giữa hiệu năng máy và đĩa cứng: cluster nhỏ sẽ làm bớt slack nhưng lại làm giảm tốc độ đĩa cứng. Cluster lớn hơn làm tăng lượng lãng phí và cũng làm tăng hiệu năng đĩa. Microsoft đã quyết định hộ chúng ta (bằng cách qui định kích thước cluster 4K là mặc định với FAT32) rằng cluster cỡ 4K là cân bằng giữa slack và hiệu năng. Dù sao đi nữa, người sử dụng kinh nghiệm vẫn có khả năng tự quyết định cho chính mình kích thước cluster cần thiết với tham số /Z bí mật của lệnh FORMAT (xem phần làm thế nào để tạo một đĩa cứng sử dụng FAT32 bên dưới).

Những nguy hiểm của FAT32

Các tiện ích đĩa cũ rất trở nên nguy hiểm với FAT32. Vì không biết được cấu trúc FAT mới, khi thao tác trực tiếp lên đĩa cứng chúng sẽ phá huỷ dữ liệu của bạn. Các tiện ích nổi tiếng của Norton hiện đã có bản nâng cấp cho FAT32 trên WEB Site của Symantec. Ngoài ra các chương trình tiện ích thao tác trên cấp file mà không truy cập trực tiếp vào đĩa có thể chạy bình thường, kể cả các chương trình sao lưu.

Lưu ý là bạn không thể thực hiện chức năng nén đĩa với FAT32 ngay cả bằng chương trình DriveSpace3 đi kèm với OSR2 và Memphis

Tôi phải làm thế nào để format đĩa cứng bằng FAT32?

Với chương trình FDISK đi cùng với OSR2, Microsoft chỉ cho phép bạn sử dụng FAT32 trên các đĩa cứng lớn hơn 512MB. Khi bắt đầu chạy FDISK, bạn phải sử dụng chức năng "large disk support" để chọn FAT32. Sau khi thoát khỏi FDISK và khởi động lại, sử dụng chương trình FORMAT đi kèm với bộ OSR2 để tạo dạng đĩa cứng.

Lưu ý rằng bạn phải chủ động khởi động lại sau khi FDISK, việc này không còn tự động như trước các phiên bản trước. Nếu bạn không khởi động lại mà chạy FORMAT ngay, bạn sẽ nhận được thông báo lỗi lạ lùng.

Thủ thuật:

Để tạo ra những paritition nhỏ hơn 512MB mà vẫn sử dụng FAT32, bạn có thể sử dụng tham số bí mật /FPRMT của FDISK. Đây là một tham số không công bố, nó không được liệt kê trong bất cứ tài liệu nào về FDISK của Microsoft, do đó hãng này không chịu trách nhiệm về những hỏng hóc có thể xảy ra với đĩa cứng của bạn nếu sử dụng tham số này. Mặc dù những thử nghiệm của chúng tôi đã tỏ ra rất suôn sẻ, bạn vẫn phải chịu một sự mạo hiểm nho nhỏ nếu sử dụng chức năng này.

Ngoài ra còn có một tham số bí mật của lệnh FORMAT để tạo dạng đĩa với kích thước cluster bất kỳ: "FORMAT /z:n" trong đó n là số sector cho một cluster mà bạn mong muốn. Đây cũng là một tham số không được Microsoft công bố.

Để có FAT32 trước khi cài OSR2

Bạn cần phải có đĩa khởi động của OSR2. Trong đĩa này sẽ có đầy đủ FDISK và FORMAT phiên bản mới. Để tạo ra nó có hai cách:

Cách1: Bắt đầu cài OSR2, tiến hành bình thường cho đến khi được đề nghị tạo đĩa khởi động, trả lời có để tạo ra nó rồi sau đó thoát khỏi quá trình cài đặt. Bạn sẽ có một đĩa khởi động với đầy đủ FDISK, FORMAT mới.

Cách 2: Chỉ thực hiện được nếu bạn đang dùng Windows 95, bạn đã cài đặt nó từ đĩa Win95 Full CD và bạn đang có trong tay đĩa OSR2 Full CD. Cho đĩa mềm trắng vào ổ A và cho đĩa CD OSR2 vào ổ CD-ROM. Sau đó vào Control Panel > Add/Remove Programs > Startup Disk, rồi nhấn nút Create Disk. Win95 sẽ tạo đĩa khởi động bằng cách lấy các file dữ liệu từ đĩa OSR2.

Để chuyển đổi FAT16 sang FAT32 và ngược lại

PowerQuest đã cho ra đời sản phẩm Paritition Magic 3.0. Khi chúng tôi sử dụng tiện ích này để chuyển đĩa cứng sang chế độ sử dụng FAT32, kích thước phần trống của đĩa tăng từ 58 lên 268MB với một đĩa 1.2 GB. Tuy nhiên kết quả đối với bạn có thể khác tuỳ thuộc vào kiểu của các file trên đĩa cứng của bạn.

Microsoft cũng có một tiện ích tương tự nhưng chỉ cho phép chuyển đổi 1 chiều từ FAT16 sang FAT32 là CVT.EXE. Tiện ích này vẫn còn đang ở dạng beta test và đi cùng với bản OSR2 và Memphis.

Để nhận biết một đĩa cứng đã sử dụng FAT32 hay chưa bạn nhất nút phải chuột vào biểu tượng một ổ đĩa đó trong My Computer rồi chọn chọn properties . Nếu thấy tham số Type là FAT32 là đúng

Mã:
 Theo huudung.com


Nhấn Thank nếu bạn thấy vừa ý nhé!:->:->
 

satthienthan1

Active member
13/4/08
36
0
MUSVN Đồng
0
Points
0
Top 10 mở rộng Firefox nên tránh
15firefoxde3.jpg
Xin chào các tín đồ của trình duyệt nguồn mở! Bạn đã từng đọc “Hai mươi mở rộng cần phải có trên Firefox” trước đây? Bạn tâm đắc với mở rộng nào nhất? Song, một sự thật là không phải mở rộng nào cũng tuyệt vời và phù hợp theo yêu cầu của mỗi cá nhân.
Hôm nay, chúng tôi trở lại vấn đề này với “Top 10 mở rộng Firefox nên tránh”, mà trong đó một số hết sức phổ biến. Hy vọng bạn sẽ có được cái nhìn toàn diện, và khai thác hiệu quả hơn trình duyệt nguồn mở của mình.

Tính phổ biến không phải là một tiêu chí trong quá trình xem xét liệu có nên cài đặt một mở rộng FireFox hay không. Yếu tố quan trọng là liệu nó có nâng cao hiệu quả cho trình duyệt theo đúng ý muốn của người sử dụng mà không gây ra “tác dụng phụ” phiền nhiễu nào không. Một điều đáng mừng là cộng đồng nguồn mở, đặc biệt những người quan tâm chuyên sâu đến các thành phần mở rộng, rất nhanh nhẹn và lão luyện. Hầu hết mọi mở rộng “phá hoại” như hạn chế tác dụng của trình duyệt hay chiếm dụng, tiêu thụ mạnh nguồn CPU đều được sửa chữa hoặc “thủ tiêu” nhanh chóng.

Song cũng có một số mở rộng gây tác hại ngầm, hoặc đem lại lợi ích quá ít so với giá trị bỏ ra để cài đặt nó. Bởi vậy, chúng ta nên xem xét 10 mở rộng sau, (trình tự của các mở rộng là ngẫu nhiên) để cân nhắc liệu có nên dùng chúng hay không.
Fasterfox
Bộ gia tốc Web này sử dụng cơ chế “pre-fetching”, có thể biến bạn trở thành một cư dân mạng khá tệ hại. Nguyên tắc hoạt động của nó là: khi bạn mở một trang Web và bắt đầu đọc nó, hệ thống ở trạng thái tạm nghỉ còn Fasterfox lặng lẽ lần theo các liên kết và tải trang đích về. Mở rộng này được xây dựng theo ý tưởng tiết kiệm thời gian. Sau khi đọc xong trang Web hiện thời, nếu bạn muốn chọn trang tiếp theo ở một trong các liên kết này, chúng đã nằm sẵn trên máy cục bộ và sẽ được đưa ra một cách nhanh chóng thay vì phải đợi chờ tải về từ Web Server nào đó.
Nghe có vẻ rất hay, nhưng chính điều này lại gây lãng phí một lượng rất lớn băng thông. Thử tưởng tượng, sẽ phải tải về bao nhiêu liên kết cho mỗi trang và dung lượng lưu trữ cho chúng phải mất bao nhiêu? Cho dù, nếu bạn không quan tâm đến băng thông thì theo một số báo cáo gần đây ghi nhận, nhiều quản trị viên hệ thống hiện nay đang tiến hành dò tìm và xác định các mở rộng (hoặc các thành phần tương tự) để loại bỏ máy khách sử dụng chúng. Fasterfox sẽ vẫn có ích nếu bạn biết cách sử dụng hợp lý. Nhưng nếu không hiểu sâu, nằm chắc về hệ thống và trình duyệt, tốt hơn hết đừng sử dụng nó.
15firefox1ww7.jpg

Nếu bạn phải dùng Fasterfox, hãy chọn thiết lập Courteous. Nó sẽ giúp tăng tốc độ duyệt nhanh hơn một chút mà không đòi hỏi phải lấn toàn bộ băng thông.
NoScript
Mở rộng này hết sức phổ biến, quen thuộc và hoạt động đúng như những gì được quảng cáo. Nó cung cấp cho bạn khả năng điều khiển JavaScript, Java và các nội dung thực thi khác trên trang có thể chạy, tuỳ thuộc vào miền nguồn của nội dung. Bạn có thể lên “danh sách trắng” các website được xem là an toàn, và “danh sách đen” những website đáng ngờ.
Nếu thực sự cần kiểu điều khiển này, chắc hẳn bạn đã dùng và vẫn sẽ tiếp tục sử dụng nó. Nhưng, với người dùng mức trung bình, việc phải lập danh sách trắng, hay danh sách đen liên tục để các script (kịch bản) có thể thực thi sẽ nhanh chóng trở nên chán ngắt.
NoScript khiến FireFox trở nên an toàn hơn? Chắc chắn! Liệu nó có xứng đáng với điều đó không? Không hẳn! Vì một số lý do, tính đa nghi của các chuyên viên Web lại trở nên rất hữu ích. Thực sự mở rộng này không cần thiết lắm, trừ phi bạn muốn gửi hoặc nhận dữ liệu nhạy cảm. Hầu hết mọi đối tượng lướt Web thường xuyên đều gỡ bỏ mở rộng này một thời gian ngắn sau khi cài đặt, khi sự mới lạ của nó không còn hấp dẫn.
15firefox2ch6.jpg

Với NoScript, bạn có thể cấm hoặc cho phép nội dung thực thi theo miền ban đầu; một trang Web đơn có thể có nội dung này từ nhiều miền khác nhau.
Adblock và Adblock Plus
Thường thì ai cũng có thành kiến với các mở rộng loại bỏ quảng cáo. Song, quảng cáo là một hình thức rất phổ biến mà hầu hết tất cả các website đều phải có nếu muốn duy trì hoạt động của mình. Các mở rộng loại bỏ quảng cáo này rất phổ biến (Adblock, Adblock Plus). Thử nghĩ lại, nếu chúng ta loại bỏ hoạt động quảng cáo trên website thì làm sao họ có thể tiếp tục cung cấp phần mềm, nội dung, chương trình miễn phí tới người dùng?
Phải công nhận là có nhiều quảng cáo rất khó chịu. Nếu bạn dùng Nuke Anything Enhanced để đóng gói chúng lại, đồng thời vẫn có thể hỗ trợ các website đưa thông tin quảng cáo phù hợp thì tuyệt vời hơn so với các mở rộng kiểu này.
PDF Download
Đây là một mở rộng khác, cũng hiệu quả như những lời được giới thiệu đã từng đưa ra, và rất phổ biến. Nhưng dường như chúng hơi mạnh quá mức cần thiết với hầu hết người dùng và gây đau đầu cho nhiều người dùng khác. PDF Download cho phép bạn kiểm soát quá trình FireFox điều khiển file PDF khi bạn kích vào chúng. Một hộp trình đơn pop-up sẽ hiện ra, cho phép bạn chọn tải về, mở ra hoặc xem file dưới dạng HTML. Bạn có thể thiết lập mặc định một hoạt động nào đó, bỏ qua trình đơn pop-up.
Bên cạnh tuỳ chọn xem file PDF dưới dạng HTML, một tính năng khác cho người dùng lựa chọn là mở chúng trong trình xem PDF bên ngoài thay vì Adobe Reader trong FireFox. Sử dụng trình xem bên ngoài nhanh hơn đáng kể ở một số (song không phải là tất cả) hệ thống. Cũng giống như vậy, xem file Acrobat dưới dạng HTML đôi khi mất thời gian hơn là mở chúng trong Adobe Reader.
Vậy, vấn đề ở đây là gì? Mở rộng này có thể gặp phải rắc rối khi cố gắng điều khiển một số file PDF nào đó. Nhiều website thường âm thầm gửi tới bạn một trang xen kẽ nhằm mục đích thu thập thông tin (hoặc một số lý do khác tương tự). Sau đó chúng mới định hướng lại tới PDF. Trong những trường hợp như vậy, mở rộng sẽ không hoạt động được. Thông thường, nếu điều này diễn ra, PDF Download bị phớt lờ và FireFox bị treo khi xử lý với các file PDF định hướng lại. Có thể khẳng định ich lợi nhỏ bé mà PDF Download mang lại không xứng với những thiệt hại nó gây ra.
VideoDownloader
Thể loại video “cây nhà lá vườn”, do người dùng tự làm đang là mốt hiện nay. Lý do ư? Đơn giản bởi công nghệ Web 2.0, các website như YouTube, Google Video khiến việc đưa nội dung trực tuyến lên trang web trở nên dễ dàng và tất cả mọi người đều có thể thưởng thức chúng. VideoDownloader là mở rộng hỗ trợ download video từ các website với nhiều tính năng giúp bạn xem chúng offline một cách dễ dàng, thoải mái. Nghe có vẻ rất tuyệt!
Nhưng vấn đề là, muốn hoạt động được, mở rộng này phải kết nối trực tiếp tới website. Và hơn thế, bạn sẽ tìm ra rằng thay vì hiện ra một cửa sổ download, cái bạn nhận được sẽ là “Service Temporarily Unavailable” (dịch vụ hiện thời không hoạt động). Vào giai đoạn cuối trong mỗi lần download, quá trình thường chậm đến điên người.
Có lẽ mở rộng này là nạn nhân trong chính sự thành công riêng của nó. Cho đến khi các vấn đề về server được xử lý, bạn có thể tự tránh cho mình nhiều sự bực mình nếu bỏ qua nó.
Greasemonkey
Vâng, chắc hẳn bạn thấy rất quen! Greasemonkey đã từng được giới thiệu là một trong các mở rộng tốt nhất ở bài “Hai mươi mở rộng cần phải có trên FireFox”. Đó thực sự là một công cụ hữu ích và thuận tiện trong sử dụng. Nhưng nó hữu ích khi bạn biết mình đang làm gì với nó. Ở Greasemonkey, nguy cơ gây ra phiền phức rất lớn, vì nó cho phép chạy các bản JavaScript do người khác viết trong FireFox. Nếu một trong các bản script đó độc hại, hệ thống của bạn sẽ bị nguy hiểm.
Để tránh phiền phức, bạn chỉ nên dùng Greasemonkey với các script mà mình biết chắc chắn là an toàn; hoặc khi đã nắm vững kiến thức bảo mật cần thiết về JavaScript, tham khảo các bình luận trên userscripts.org để chắc chắn nó không gây ra tác hại nào.
Nếu vẫn chưa thấy an toàn, hãy bỏ qua mở rộng này.
ScribeFire (trước đây là Performancing)
Mở rộng này được đánh giá là rất vô dụng. Đó là công cụ sử dụng trong môi trường trình duyệt, hỗ trợ cho các bài viết blog. Nhưng không phải blog nào cũng có một trình soạn thảo trên trình duyệt để dùng nó.
Có lẽ, một hệ thống viết blog nào đó cần kiểu ứng dụng hỗ trợ này, nhưng chúng ta không quen với nó. Bởi vậy nên hiện nay, thường người ta bỏ qua mở rộng hỗ trợ viết blog mà thay vào đó là sử dụng trình soạn thảo dựng sẵn trong phần mềm blog.
Trình soạn thảo dựng sẵn của WordPress (trên đầu)
và của ScribeFire (ở dưới). Bạn có cần cả hai?
Song, đừng nhầm lẫn! ScribeFire là gói rất hữu ích của phần mềm,nNhưng hiện nay chúng ta chưa cần dùng đến. Nếu bạn muốn sử dụng phần mềm blog mà không cần đến một trình soạn thảo, ScribeFire là một lựa chọn tốt.
TrackMeNot
Đây là một mở rộng khác không mang tính hữu ích cho lắm. Các nhà phát triển dường như quá quan tâm đến việc lập hồ sơ cá nhân trên công cụ tìm kiếm (là quá trình website tìm kiếm theo dõi truy vấn của người dùng và xây dựng profile cá nhân riêng theo truy vấn tương ứng). Kết luận này được đưa ra sau khi truy vấn tìm kiếm của 657 000 thành viên AOL trong ba tháng được tung lên web.
Vấn đề đáng quan tâm ở TrackMeNot không phải là tính riêng tư mà ở kỹ thuật được sử dụng. Mở rộng này chạy ở tiến trình nền khi bạn lướt Web và gửi truy vấn tìm kiếm ngẫu nhiên tới công cụ tìm kiếm của AOL, Yahoo, Google, MSN. Sẽ lãng phí bao nhiêu tài nguyên hệ thống cho cả bạn và công cụ tìm kiếm bạn đang sử dụng?
Một phần file nhật ký tìm kiếm do TrackMeNot thực hiện
Tabbrowser Preferences
Mở rộng này cho phép bạn loại bỏ các thiết lập tab của FireFox theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, bạn có thể thêm vào nút New Tab, hoặc điều chỉnh để biểu tượng Close Tab bật/tắt trên từng tab hoặc ở cuối thanh tab bar. Nó hoạt động khá tốt!
Vấn đề là, nếu bạn gỡ bỏ mở rộng này, nó sẽ không tạo lại các thiết lập tab, khiến bạn bị ngắt hoặc ngưng, dở hoạt động và buộc phải điều chỉnh ở trang config. Song, điều chỉnh trong config không phải ai cũng hiểu, và thậm chí nhiều người còn không biết đến nó.
Nếu gỡ bỏ mở rộng này, bạn sẽ phải sử dụng trang config để điều chỉnh lại các thay đổi do nó gây ra. Đó là một quy ước mở rộng khá phiền phức và khó chịu.
Các thay đổi mở rộng này thực hiện khá tinh tế, nhưng không phải là vấn đề đặc biệt. Nếu gỡ bỏ mở rộng, bạn sẽ gặp phiền phức, và trình duyệt được đặt lại trạng thái mặc định của nó.
Tabbrowser Extensions
Mở rộng này thực sự có trọng lượng, và rất phổ biến trong cộng đồng FireFox. Nó được ví giống như một nghi thức trong quá trình chuyển trạng thái của các tín đồ công nghệ FireFox. Nó cung cấp cho bạn nhiều tính năng điều khiển hoạt động duyệt tab hoá và hỗ trợ cả các thành phần bổ sung để tăng cường hiệu quả với nhiều chức năng hơn. Tuy vậy, mở rộng này cũng có nhiều lỗi và xung đột với nhiều mở rộng khác. Thực tế, ngay chính các nhà phát triển mở rộng này cũng khuyên bạn không nên cài đặt nó!
Khi mà ngay cả tác giả của sản phẩm đưa ra lời khuyên không nên sử dụng thì chẳng có vấn đề gì để phải ngại ngần hay lưỡng lự. Dù sao thì, mở rộng này đã (và có thể là sẽ) không được nâng cấp để hỗ trợ dòng FireFox 2.x.
Ngoài ra: chúng ta nên xem xét đến “kẻ mạo danh” Numbered Links 0.9
Về thực chất, bạn chẳng gặp phải vấn đề gì với bản thân Numbered Links 0.9. Bằng cách hiển thị số bên cạnh liên kết, nút và các yếu tố tương tác khác trên trang Web, nó cho phép bạn xác định và tới vị trí cần đến mà không phải dùng chuột. Nếu đã chọn cài đặt Numbered Links 0.9 trước đó, chẳng có lý do gì để bạn không dùng nếu nó thực sự hữu ích cho mình (dù có thể bạn cũng thấy thích thú với Conkeror, được phát triển bởi cùng tác giả).
Tuy nhiên, nếu thấy mở rộng này trong danh sách các thành phần bổ sung (add-on) mà không gọi lại chương trình cài đặt nó, bạn nên cẩn thận. Có một phiên bản mạo danh được sửa lại thành FormSpy Trojan, với khả năng tự cài đặt như một mở rộng FireFox dưới cái tên “Numbered Links 0.9”. FormSpy có thể đóng gói thông tin dưới dạng HTML và gửi tới một website độc hại nào đó. (Nếu muốn biết thêm thông tin, bạn có thể xem trên FormSpy profile của McAfee).

Và giờ bạn nghĩ gì?

Bạn đã có trong tay thông tin về 10 mở rộng FireFox nên tránh, cộng thêm một kẻ giả mạo thực sự cần được cảnh báo, vậy giờ bạn nghĩ gì?

FireFox đã thực sự phổ biến ở Việt Nam? Chia sẻ những kinh nghiệm thú vị về các mở rộng của chúng và nhiều ý tưởng cho cộng đồng FireFox? Nếu sẵn lòng, chúng tôi rất mong nhận được các đóng góp của các bạn.


Theo pcworld
 

satthienthan1

Active member
13/4/08
36
0
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tìm hiểu về HACKER 1

Căn bản nhất để trở thành Hacker (Full version)


Thể theo yêu cầu của mọi người, ban điều hành HackerVn đã cho ra đời bản FAQ này dành cho những bạn mới làm quen với nghệ thuật Hacking và Internet. Bạn có thể tự tìm tòi những điều căn bản mà bất cứ Hacker nào cũng phải "master". Hy vọng những khái niệm trong bài viết này sẽ giải đáp được nhiều thắc mắc của một số bạn. Nếu bạn cảm thấy những kiến thức dưới đây không đúng hoặc thiếu chính xác bạn có thể gửi thư góp ý.

Bài hơi dài,nhưng đưng nên bỏ quá vì rất quan trọng,và đây là bài sưu tầm !!!
HackerVN Hack FAQ :
Bản FAQ này dựa trên cơ sở đóng góp, góp ý của các thành viên trên HackerVN community, vậy nếu bạn có câu hỏi hay giải đáp muốn chúng tôi thêm vào bản FAQ này thì xin liên hệ với địa chỉ e-mail ở trên hoặc có thể gửi lên trên forum. Để trang trở nên thật sự hữu ích và để giúp HackerVN tiến lên phía trước chúng tôi thiết tha sự giúp đỡ và đóng góp của bạn. "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao".
Internet

Địa chỉ IP (IP Address)
(By Conan_Dole and BlackArt)

Trên mạng Internet nó sẽ xác định chính bạn. Khi kết nối vào mạng thì IP của bạn là duy nhất trên thế giới. Tuy nhiên số này chưa hẳn là cố định. Nếu bạn vào mạng qua một ISP thì số IP của bạn sẽ thay đổi ở các lần bạn kết nối.
Một người biết IP của bạn thì có thể lần ra vị trí của bạn. Nghĩa là khi có IP thì biết được địa chỉ của ISP rồi biết được thông tin của bạn. Trên thực tế, IP cho biết về máy tính được sử dụng để vào mạng chứ không cho biết thông tin về người sử dụng, trừ khi IP của bạn là cố định hoặc sử dụng account của riêng bạn.
Sự khác nhau giữa logic (hostname) và một địa chỉ IP:
Đơn giản chỉ bởi vì việc gọi tên, ví dụ www.yourname.com sẽ dễ hơn nhiều đối với việc phải gọi 202.32.156.14. Tuy vậy, có một sự khác biệt quan trọng giữa 2 điều này. IP là số để xác định thiết bị (device) còn hostname là một mối liên kết giữa 1 từ khoá và một số IP. Một địa chỉ IP có thể có nhiều hostname khác nhau nhưng một hostname thì chỉ có một IP liên kết với nó.
Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 - 255. Mỗi số được lưu bởi 1 byte -> !P có kicks thước là 4byte, được chia thành các lớp địa chỉ. Có 3 lớp là A, B, và C. Nếu ở lớp A, ta sẽ có thể có 16 triệu điạ chỉ, ở lớp B có 65536 địa chỉ. Ví dụ: Ở lớp B với 132.25,chúng ta có tất cả các địa chỉ từ 132.25.0.0 đến 132.25.255.255. Phần lớn các địa chỉ ở lớp A llà sở hữu của các công ty hay của tổ chức. Một ISP thường sở hữu một vài địa chỉ lớp B hoặc C. Ví dụ: Nếu địa chỉ IP của bạn là 132.25.23.24 thì bạn có thể xác định ISP của bạn là ai. ( có IP là 132.25.x.)

IP thể hiện điều gì: Trên mạng Internet nó sẽ xác định chính bạn. Khi kết nối vào mạng thì IP của bạn là duy nhất trên thế giới. Tuy nhiên số này chưa hẳn là cố định. Nếu bạn vào mạng qua một ISP thì số IP của bạn sẽ thay đổi ở các lần bạn kết nối.
Một người biết IP của bạn thì có thể lần ra vị trí của bạn. Nghĩa là khi có IP thì biết được địa chỉ của ISP rồi biết được thông tin của bạn. Trên thực tế, IP cho biết về máy tính được sử dụng để vào mạng chứ không cho biết thông tin về người sử dụng, trừ khi IP của bạn là cố định hoặc sử dụng account của riêng bạn.

Sự khác nhau giữa logic (hostname) và một địa chỉ IP:


Đơn giản chỉ bởi vì việc gọi tên, ví dụ http://www.yourname.com/ sẽ dễ hơn nhiều đối với việc phải gọi 202.32.156.14. Tuy vậy, có một sự khác biệt quan trọng giữa 2 điều này. IP là số để xác định thiết bị (device) còn hostname là một mối liên kết giữa 1 từ khoá và một số IP. Một địa chỉ IP có thể có nhiều hostname khác nhau nhưng một hostname thì chỉ có một IP liên kết với nó.

IP spoofing là: Một số IP có mục đích để xác định một thiết bị duy nhất trên thế giới. Vì vậy trên mạng một máy chủ có thể cho phép một thiết bị khác trao đổi dữ liệu qua lại mà không cần kiểm tra máy chủ.
Tuy nhiên có thể thay đổi IP của bạn, nghĩa là bạn có thể gởi một thông tin giả đến một máy khác mà máy đó sẽ tin rằng thông tin nhận được xuất phát từ một máy nào đó (tất nhiên là không phải máy của bạn). Bạn có thể vượt qua máy chủ mà không cần phải có quyền điều khiến máy chủ đó. Điều trở ngại là ở chỗ những thông tin phản hồi từ máy chủ sẽ được gởi đến thiết bị có IP mà chúng ta đã giả mạo. Vì vậy có thể bạn sẽ không có được sự phản hồi những thông tin mà mình mong muốn. Có lẽ điều duy nhất mà spoof IP có hiệu quả là khi bạn cần vượt qua firewall, trộm account và cần dấu thông tin cá nhân!

Cổng ảo là gì? (Virtual Port)

Cổng ảo là 1 số tự nhiên đựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header (hiện có lẽ bạn còn xa lạ với 2 từ này, chúng tôi sẽ đề cập sau). Như mọi nguòi đã biết, Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng dùng để truyền và nhận dữ liệu. Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin đuọc gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SMTP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc định, ví dụ FTP có port mặc định là 21, web service có port mặc định là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân.... Người quản trị mạng có thể thay đổi số port mặc định này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ đó được. Chắc bạn đã từng nghe nói đến PORT MAPPING nhưng có lẽ chưa biết nó là gì và chức năng thế nào. Port mapping thực ra đơn giản chỉ là quá trình chuyển đổi số port mặc định của một dịch vụ nào đó đến 1 số khác. Ví dụ Port mặc định của WebServer là 80, nhưng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080/ , 8080 ở đây chính là số port của host xxx nhưng đã đuợc nguòi quản trị của host này "map" từ 80 thành 8080.

RFC là gì?:

RFC là viết tắt của Request For Comment, là tập hợp những tài liệu về kiến nghị, đề xuất và những lời bình luận liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến công nghệ, nghi thức mạng INTERNET. Các tài liệu RFC đựợc chỉnh sửa, thay đổi đến khi tất cả các kỹ sư thành viên của IETF(Internet Engineering Task Force) đồng ý và duyệt, sau đó những tài liệu này được xuất bản và được công nhận là 1 chuẩn, nghi thức cho Internet. Tài liệu RFC nổi tiếng và làm tạo được tiếng vang lớn nhất là tài liệu RFC số 822 về Internet Email bởi Dave Crocker.
Trang chủ của RFC: http://www.ietf.org/rfc.html


DNS là gì? Tại sao ta lại dùng DNS, DNS làm việc ra sao, tên miền là gì, etc...?:


DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS đợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ đó, bạn phải kết nối đến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số tương ứng và ngược lại. Ví dụ: 127.0.0.1 --> localhost và localhost--->127.0.0.1
Hệ thống "tên đến địa chỉ" (name-to-address) được dùng trước đây khi DNS chưa ra đời, đây thực chất là 1 file trên server. Cấu tạo của 1 file này là 1 table với "hostname" và địa chỉ IP tương ứng, file này được cập nhật và bảo quản bởi Standford Reserch Institute Network Information Center (SRI-NIC). Vài lần 1 tuần, tổ chức này lại cập nhật nội dung file này. Những nguòi quản trị mạng nếu cần sẽ download file này xuống để dùng cho local DNS. Dần dần, số lượng của các trang web trên internet ngày càng nhiều. Cách cũ dùng "name-to-address" trở nên thiếu hiệu quả và tốn thời gian --> DNS ra đời. DNS ko phụ thuộc vào bất cứ 1 server riêng rẽ nào, DNS được phân phát cho nguòi dùng dưới dạng 1 file cơ sở dữ liệu, file này được giũ trên khắp các DNS server trên toàn thế giới. Mỗi DNS server đều tự tìm kiếm một DNS cao hơn khi nhân được yêu cầu về 1 host nào đó ko có trong cơ sở dữ liệu trên máy mình

Máy chủ DNS (DNS Server)

DNS server là 1 máy tính bình thường có thể PC(/MAC) chạy UNIX hoặc nhân bản của Unix (Linux,etc..) và chay một chương trình quản lý domain name gọi là BIND (Berkely Internet Name Domain). DNS server có thể chạy các hệ điều hành khác như Windows, MacOS nhưng thường thì *nix hay được chọn hơn cả vì unix có tính bảo mật cao hơn và cho phép lượng truy cập lớn hơn.
Chương trình quản lý DNS được thiết kế chia làm 2 phần, phần thứ nhất là 1 "daemon" nghe ở cổng 53 đợi kết nối. Phần thứ 2 là để gửi yêu cầu lên một DNS cao hơn nếu local database ko có thông tin mà máy khách yêu cầu. Phần thứ nhất (daemon) trả lời trình duyệt web mỗi khi nhận được yêu cầu. Ví dụ, khi bạn mở Internet Explorer và đánh vào http://www.hackervn.org,/ trình duyệt của bạn sẽ gửi yêu cầu đến 1 máy chủ có dịch vụ DNS gần nhất để tìm IP của http://www.hackervn.org/ vì trình duyệt của bạn cần biết IP máy chủ hiện đang lưu trữ trang web http://www.hackervn.org./ Máy chủ DNS ở ISP của bạn sẽ tìm trong cơ sở dữ liệu, nếu ko tìm thấy địa chỉ IP cho http://www.hackervn.org/ máy chủ chạy DNS này sẽ chuyển sang phần thứ 2 là đưa yêu cầu của máy khách đến 1 máy chủ DNS cao cấp hơn, nhiều dữ liệu hơn để giải quyết.


Định dạng cây của DNS (tree formation)


Một khi DNS server ko thể tìm thấy số IP tương ứng cho 1 hostname trong cơ sở dữ liệu của mình, server đó sẽ gửi yêu cầu đến 1 DNS server khác cao hơn 1 bậc, và DNS server này sẽ lặp lại quá trinh mà DNS server dưới đã làm để tìm địa chỉ IP của 1 host nào đó. Nếu DNS server này vẫn ko tìm thấy thì yêu cầu sẽ lại được gửi đến 1 DNS server khác cao hơn nữa và quy trình này sẽ được tiếp tục cho đến khi nào ra kết quả. Kết quả của yêu cầu này chỉ có thể là "Tìm Thấy" hoặc "Ko tìm thấy". :) . Đến thời điểm này, chắc bạn đã hình dung ra được cấu trúc của các DNS server như thế nào rồi? Nếu chưa, hãy nhìn vào ví dụ dưới đây:
Ví dụ nhà cung cấp internet của bạn là FPT. Trang web đặt trên máy chủ của FPT là http://www.fpt.vn./ Mặc định, DNS server sẽ là dns.fpt.vn. Bây giờ bạn muốn truy cập http://www.hackervn.org./ dns.fpt.vn sẽ tìm thông tin về host này ở trong cơ sở dữ liệu trên máy chủ DNS ở FPT xem ai đó đã gửi thông tin truy cập về host này chưa. Nếu điạ chỉ hackervn ko được tìm thấy ở "local database" hoặc trong bộ nhớ, dns.fpt.vn sẽ đưa yêu cầu này đến 1 DNS server cao cấp hơn, ở đây sẽ là "dns.vn". DNS server này quản lý tất cả các trang có đuôi .vn. Tuy nhiên server này có thể ko có địa chỉ này trong cơ sở dữ liệu nhưng có thể có vì có thể ai đó đã truy cập trang này. Nếu ở đây vẫn ko tìm thấy host/ip cần tìm, DNS server này cuối cùng phải gửi request đến DNS server lớn nhất quản lý tất cả các domain gọi là ".root". Máy chủ chạy .root DNS này là một máy tính rất mạnh, và cơ sở dữ liệu của .root này bao gồm tất cả các loại domain trên toàn thế giới. như .com , .net , .mil, .co.uk, vân vân.....

Khi nào và tại sao DNS bị "bại liệt" ?:

Kết quả tìm kiếm 1 trang web có thể lâu hay nhanh tuỳ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ internet của bạn có điạ chỉ IP và host đó ko trong cơ sở dữ liệu ở trên máy chủ DNS hay không. Nếu nhà cung cấp dịch vụ Internet có sẵn thông tin bạn cần trong "local DNS database" có lẽ chỉ vài giây là bạn có thể có thể xem đựoc trang web còn nếu ko thì sẽ mất 1 khoảng thời gian lâu hơn, tồi tệ nhất là khi bạn nhận đựợc thông báo "Page can not be displayed", có nghĩa là 1 là trang web đó ko tồn tại hoặc là do quá trình "yêu cầu" DNS quá lâu nên browser của bạn "time out" và "giết chết" kết nối. Tuy nhiên bạn có thể Refresh lại trình duyệt, nếu lần trước là do "time out" thì lần này bạn sẽ nhận đựoc trang web đó nhanh hơn vì máy chủ DNS của nhà cung cấp dịch vụ Internet của bạn đã cập nhật đựoc trang đó trong lần yêu cầu trước khi bạn gửi đến.

Khái niệm về Ping và cách hoạt động?:

Ping là 1 khái niệm rât đơn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn đoán mạng. Tiểu sử của từ "ping" như sau: Ping là tiếng động vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào đó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể đó và tiếng vang lại sẽ là "pong" vậy thì tàu ngầm đó sẽ biết là có gì gần mình.
Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó như đã đề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) đến host, nếu host đó "pong" lại có nghĩa là host đó tồn tại (hoặc là có thể với tới đựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt được luợng thời gian một gói tin (data packet) đi từ máy tính của mình đến 1 host nào đó.
Có 1 loại dịch vụ Ping khác gọi là "TCP Ping" và "UDP Ping". Hai dịch vụ này đều đợi kết nối ở cổng số 9 và ghi lại những gì bạn đánh trên màn hình. Dịch vụ này được sử dụng khi nguời quản trị mạng ko muốn máy chủ của mình nhận những gói tin ICMP( để tránh Denial Of Service ) nhưng vẫn muốn để mọi nguòi ping để xem máy chủ của mình "chết" hay "sống".

Số thứ tự (Sequence numbers) là gì?:

"Sequence number" là những số xuất hiện trong phần "header" của 1 gói tin TCP. Mục đích của "sequence number" là để các gói tin được nhận theo đúng trình tự như khi chúng được gửi đi. Một trong những phiền toái trong việc truyền dữ liệu qua mạng Internet nói chung và Intranet nói riêng là sự chuyển đổi các gói tin (Packet Switching). Nôm na là như sau, mỗi gói tin đi mỗi con đường khác nhau để tới địa chỉ của host. Gói tin A đi đừong này nhưng gói tin B có khi lai đi đường khác. TCP/IP được thiết kế sao cho mỗi gói tin TCP tìm con đường nào nhanh nhât để đến được đia chỉ đích nhưng con đường này thường là đồng nhất(Với TCP). Gói tin gửi đi phụ thuộc vào tốc độ của đường truyền mà nó đi qua nên những gói tin này ko thể đến nơi cùng 1 lúc, có gói sẽ đến trước có gói sẽ đến sau. Ví dụ gói thứ nhất sẽ đến sau gói thứ 10 chẳng hạn.
Để chắc chắn là máy đích nhận đựoc các gói tin theo trình tự để sau này lắp lại thành 1 file hoàn chỉnh, mỗi gói tin TCP "header" bao gồm 1 số thứ tự (sequence number). Nếu ko có số thứ tự này thì máy đích sẽ gần như ko thể lắp ráp các gói tin lại thành một file hoàn chỉnh được, nhất là đối với những file to vài trăm Megabyte.

"Thời Gian Để Sống" (Time To Live)

Như bạn đã biết (có thể ko biết), Internet là một mạng rất rộng lớn. Để đảm bảo các gói dữ liệu đến được máy đích thì quả là một vấn đề. Nếu các gói dữ liệu này đến được chỗ cần đến thì khỏi phải nói, nhưng nếu những gói tin này bị lạc trên đường thì sao?Chính vì thế "Time To Live" ra đời. Khi những gói tin này ko đến được máy đích sau khi đã đi qua số một số router(số này đã được mặc đính trước) sẽ tự phân huỷ.
"Time To Live" chỉ tồn tại trong gói tin TCP. Đây là 1 cách để thủ tục TCP bảo đảm gói tin được gửi đi đến đúng địa chỉ, và để người nhận biết là gói tin vừa gửi đi đã bị mất hoặc thất lạc nếu có gì xảy ra, như vậy gói tin đó sẽ được gửi lại. Time To Live là 1 số tự nhiên, mỗi khi gói tin TCP đi qua 1 router, con số này sẽ giảm đi 1 giá trị, khi số này giảm xuống còn 0, gói tin sẽ tự tiêu huỷ và thông báo ICMP được gửi về thông báo là gói tin vừa gửi ko đến đuợc để máy này gửi lại gói tin vừa thất lạc.
Hầu hết các máy đều để giá trị của gói tin TCP là 32. Các chuyên gia về mạng đưa ra lời khuyên là nên để giá trị mặc định TTL là 64, một số khác lại cho là 128 nhưng 128 có vẻ là hơi nhiều.


Thế nào là kết nối TCP 3 chiều ( 3 way TCP hand-shake):


TCP là nghi thức kết nối trước, truyền tải dữ liệu sau. Cụ thể là nếu bạn muốn truyền dữ liệu giữa 2 máy tính nối mạng, trước tiên bạn phải thiết lập một số giao thức giữa 2 máy với nhau để báo cho nhau là đã chuẩn bị cho việc gửi và nhận dữ liệu hay chưa. Quá trình này gọi là kết nối 3 chiều của TCP (TCP 3 ways hand-shake)
Để có thể giúp bạn hiểu rõ ràng hơn về vấn đề này, chúng tôi xin đưa ra ví dụ minh hoạ sau. Chẳng hạn máy tính A muốn thiết lập kết nối TCP đến máy tính B, trước tiên máy tính A sẽ phải gửi 1 gói tin gọi là gói tin với header được đánh dấu SYN (với 1 bit ở TCP header là on) đến B. Gói tin SYN này bao gồm số thứ tự (sequence number). Khi B nhận đuợc gói tin có dấu SYN này từ A, máy B sẽ gửi một gói tin SYN của chính nó và 1 gói tin khác nữa gọi là ACK. Gói tin ACK này thực chất là một gói tin tương tự như SYN nhưng chứa dữ liệu của gói tin SYN mà A gửi cho máy B lúc đầu. Cuối cùng, máy A gửi một gói tin SYN cuối cùng lại cho B như là ở buớc thứ 2 khi B trả lời cho A.
(SYN) A -----> B Khi quá trình này hoàn tất, 2 máy tính có thể thiết
lập kết nối và truyền tải dữ liệu cho nhau duới dạng
TCP

(SYN)+(ACK)A <----- B
(ACK) A -----> B

Chú ý: Truyền tải dữ liệu duới nghi thức UDP thì ko cần phải thiết lập kết nối trước giống trong TCP. Những gói tin TCP thường đi cùng một đuờng, qua cùng router tuy nhiên đối với UDP thì do ko thiết lập một kết nối nào cả giữa 2 máy nên mỗi gói tin đều tự tìm các đuờng khác nhau để đến máy đích, ko có một còn đuờng nào thống nhất cả.
Khái niệm về "timeout" ? "Time out" đựoc dùng để miêu tả khoảng thời gian máy A gửi 1 gói tin cho máy B nhưng ko nhân đuợc trả lời từ máy B. Ví dụ khi bạn kết nối vào 1 server chat nào đó chẳng hạn như việtchat, bạn click vào nút connect nhưng sau khoảng 1 phút vietchat server vẫn chưa trả lời. Đây gọi là time out.
Khái Niệm tracert (traceroute) và cách làm việc? Traceroute: là một công cụ để chuẩn đoán mạng rất tốt. Tiện ích này có sẵn ở trong windows(tracert) hoặc uniX(traceroute). Tracert dùng TTL(Time To Live) để phát hiện đường đi của gói tin và sau đó ping các router mà gói tin này đã đi qua. Tiện ích này thực sự hữu ích khi bạn muốn kết nối đến một máy chủ nhưng bạn ko tài nào đến đuợc và bạn muốn xem là những router nào trên đuờng mà gói tin này đã đi cản trở giao thông mạng
Đầu tiên, lệnh tracert gửi một gói tin với giá trị TTL là 1. Gói tín với giá trị TTL = 1 này sẽ bị tiêu huỷ ngay sau khi nó bước qua router đầu tiên, thông báo lỗi sẽ đuợc gửi trả về máy của bạn. Sau đó lại một gói tin TCP khác được gửi đi nhưng lần này với giá trị TTL=2. Như các bạn đã biết, khi đến router thứ 2 gói tin này sẽ bị "chết" và thông báo lỗi sẽ đuợc gửi về máy bạn và cứ thế. Sau khi đã hoàn thành cả một đoạn đường dài qua tất cả các router mà gói tin cần đi qua, tracert dùng lệnh ping các router trên đường để xem những router nào đã trả lời và mất số lượng thời gian là bao lâu. Như vậy, người dùng có thể tự xem router nào nhanh, router nào cho gói tin đi qua ...vân vân.. Có thể là do chậm hoặc là bị down.

Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

Khái niệm về HTTP và cách hoạt động:

HTTP là viết tắt của cụm từ tiếng anh Hyper Text Transfer Protocol. Đây là một nghi thức dùng cho trình duyệt web (Opera, Internet Explorer....) để giao tiếp với máy chủ Web và hiển thị thông tin. Khi bạn gõ địa chỉ của 1 web-site nào đó vào hộp địa chỉ trong trình duyệt Web và gõ "Enter", việc đầu tiên trình duyệt của bạn sẽ làm là tìm ở máy chủ DNS xem địa chỉ IP của máy chủ chứa trang đó là gì. Sau khi đã tìm thấy địa chỉ IP, trình duyệt web của bạn sẽ tìm cách để kết nối vào cổng (port) mà máy chủ đó dùng cho http(cổng mặc định là 80) và lấy thông tin mà bạn cần hiển thị(ở đây là trang web).
Tip: Bạn có thể chỉnh sửa file host(c:\windows\host) trong win 98 hoặc c:\windows\System32\driver\host để ghi lại những server mà bạn hay truy cập. Như vậy thì sẽ tiết kiêm đuợc nhiều thời gian để tìm IP trên DNS server.
Dưới đây là 2 lệnh căn bản bạn nên biết:
1) "get"...Đây là lệnh trình duyệt dùng để lấy 1 trang web nào đó mà bạn đang yêu cầu. Ví dụ get url HTTP/1.0. url là địa chỉ trang web còn HTTP/1.x là version của dịch vụ HTTP mà trình duyệt của bạn dùng.
2) "post"... Đây là lệnh trình duyệt dùng để gửi 1 file lên trên server.
FTP là gì và cách làm việc
FTP là viết tắt của cụm từ tiếng anh File Transfer Protocol. Đây là nghi thức dùng để truyền tải dữ liệu từ máy này sang máy khác. Điểm lợi của FTP là tính dễ sử dụng, bạn có thể dễ dàng kết nối vào 1 máy chủ FTP và tìm những file bạn muốn miến là những file đó là cho public. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tiện ích FTP dễ dùng như CuteFTP etc...

Chú ý: Bạn có để ý rằng tất cả các nghi thức liên quan đến Internet mà chúng ta đã tìm hiểu trong bản FAQ đều kêt thúc bằng từ P (protocol). Và như bạn thấy, thủ tục nào cũng đều liên quan đến việc truyền tải file (upload và download).
Các lệnh và cách sử dụng Telnet
Lệnh
cd ...chuyển thư mục ls hoặc dir ...list các file trong thư mục hiện thời
get ...download file xuống máy bạn
ls ...list file (Unix)
cdup ...chuyển đến thư mục mẹ
put ...upload file lênt máy chủ ở thư mục hiên thời
quit .....ngắt kết nối và thoát
help list các lệnh.
SMTP là gì và cách hoạt động. SMTP: là viết tắt của Simple Message Transfer Protocol. SMTP là một nghi thức của Internet dùng để gửi thư. Khi dùng SMTP để gửi thư, bạn thường phải dùng một chương trình Sendmail(Sendmail Deamon). Có thủ tục khác gọi là QMail nhưng thường thường Sendmail vẫn phổ biến hơn cả mặc dù Sendmaili là một nghi thức gửi thư rất ko an toàn.
Chương trình sendmail có cổng mặc định là 25, cổng này mở để đợi máy khách kết nối vào để gửi thư. SMTP có thể bị kẻ xấu lợi dụng để dùng vào mục đích ko tốt vì SMTP ko dùng hệ thống kiểm tra người dùng. Bạn chỉ cần kết nối vào server và đưa ra địa chỉ nội dung thư là thư đó đựoc gửi đi ko cần biết bạn là ai. Hiện trên thế giới có rất nhiều SMTP server, bạn có thể dùng google để tìm những server này.
Tuy nhiên bạn vẫn có thể khám phá ra bức thư bạn nhận được là thật hay giả bằng cách chỉ cần nhìn vào header của thư đó.
Pop 3 là gì và cách hoạt động: Pop 3 là viết tắt của Post Office Protocol, số 3 là số phiên bản mới hơn của POP. Đơn giản nghi thức này dùng để nhận thư từ POP3 server.
Khi kết nối để nhận thư bằng Outlook, Eudora hay các chương trình e-mail khác để gửi thư, trước tiên chuơng trình sẽ kết nối đến POP3 server, server này thuờng đợi kết nối ở cổng mặc định là 110. Bạn nên chú ý là POP3 email khác với Web email, đối với POP3 bạn có thể telnet vào server để check thư trong khi với Webmail thì bạn phải vào hẳn trang web để check(ví dụ Hotmail). Web email thường là chậm hơn so với POP3 email.
POP3 là một nghi thức dễ học nhất trong các nghi thức, đôi khi kiến thức POP3 có thể có lúc hữu dụng. Ví dụ khi bạn bị bomb-mail chẳng hạn, bạn có thể telnet vào POP3 server và xoá những bomb thư đó đi mà ko phải tải chúng xuống máy bạn.
 
Sửa lần cuối bởi điều hành viên: