LEGENDs - Những huyền thoại thể thao thế giới.

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Amanda Beard


1161677320.jpg

Ngày sinh:
29/10/1981

Nơi sinh:
California, Mỹ

Quốc tịch
Mỹ

Tình yêu của Amanda dành hết cho bơi lội và quả đúng như vậy khi giờ đây cô đang đội vương miện: Nữ hoàng bơi ếch - một trong những kiểu bơi đòi hỏi có kỹ thuật khó nhất.



Cô gái California này lần đầu tiên đã khiến cho mọi con mắt người dân Mỹ phải chú ý đến khi mới 14 tuổi. Trong khi những bạn bè cùng lứa đang tung tăng cắp sách tới trường, thì Amanda với gương mặt còn rõ nét ngây thơ lại đang đứng trên bục danh giá nhất: đỉnh đài vinh quang tại TVH Olympic Atlanta 1996.

Khi ấy, hình ảnh cô bé ôm chú gấu bông, với tấm HCV nội dung 400m tiếp sức quấy quanh cổ, đã trở thành một hình ảnh quý báu của quốc gia. Với thành tích đó, Amanda trở thành ngôi sao bơi lội trẻ thứ hai trong lịch sử nước Mỹ có được vinh quang ấy (đánh bại kỷ lục của Pokey Watson giành được năm 1964) và trở thành tấm gương cho thế hệ trẻ Mỹ noi theo.

Theo thời gian, bộ huy chương của Amanda lại dày thêm, chính vì lẽ đó khi lúc này mới 25 tuổi, nhưng Amanda đã bỏ túi với số huy chương quốc tế gần bằng số tuổi.


Sinh ra và lớn lên ở Irvine, California - mảnh đất quanh năm chỉ thấy ánh nắng và quê hương của những bể bơi trong xanh như pha lê, Amanda tỏ rõ sự ngưỡng mộ về hai người chị của mình, Leah và Taryn (cả hai đều là VĐV bơi lội của CLB địa phương).

Không chịu ngồi nhìn các chị vẫy vùng trong các làn nước, Amanda bắt đầu nhẩy xuống bể bơi khi mới 4 tuổi và câu chuyện tình yêu với làn nước đã nẩy sinh từ đây. Chỉ ít lâu sau, Amanda gia nhập một CLB bơi địa phương và tài năng của cô đã sớm được chứng minh.

Nhiều người dẫn dắt Amanda phải thừa nhận rằng, Amanda là một tài sản Olympic của quốc gia. Trên bục vinh quang của đấu trường trong và ngoài nước hiếm khi nào không có tên "Amanda Beard".

Theo Báo Thể Thao Việt Nam
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Danica Patrick – Chiến thắng đầy ý nghĩa

(choXe.net) - Giới đua xe thể thao đang quan tâm đặc biệt tới chiến thắng lịch sử của Danica Patrick. Cuối tuần qua, trong trận đua IndyCar lần thứ 50 của mình, Danica đã trở thành người phụ nữ đầu tiên giành chiến thắng chặng trong IndyCar và ngay lập tức, báo giới đã đồn thổi về khả năng tham gia F1 của cô.



Trong lịch sử hơn nửa thế kỷ của F1, có hai đại diện của phái đẹp từng tham gia giải đua GP, đó là Lella Lombardi (1974) và Giovanna Amati (1992). Ngoài hai nhân vật này, thực ra còn có thêm vài gương mặt nữ khác nhưng họ đều không lọt qua vòng thi dành vị trí xuất phát. Ông trùm Bernie Ecclestone luôn mong muốn được nhìn thấy một nữ phi công trên podium nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra và có lẽ Danica Patrick sẽ là người đầu tiên đem lại cho ông niềm vui ngọt ngào này. Trong một giải đua nổi tiếng khác của châu Âu là DTM (giải đua touring car của Đức), có tới hai phi công nữ tham gia, đó là Susie Stoddard và Katherine Legge và có thể khẳng định rằng, khán giả sẽ không bối rối hay thắc mắc khi biết rằng sau vô-lăng là một tay đua nữ. Pedro de la Rosa, phi công thử xe của McLaren nhận định về việc xuất hiện của đồng nghiệp nữ trên đường đua như sau:



“Càng ngày, điều kiện phấn đấu dành cho phụ nữ càng nhiều và số phi công nữ tham gia go-kart ngày càng đông. Điều đó có nghĩa là phái đẹp đang có một cơ sở ngày càng vững mạnh trong môn thể thao đua xe. Về phần mình, tôi rất vui nếu F1 có vài gương mặt nữ. Tuy nhiên, tôi không rõ khả năng chịu đựng của họ bởi nhiều khi, nam giới chúng tôi cũng phải khó khăn lắm mới có thể đương đầu với những khó khăn trong F1. Đó là băn khoăn duy nhất của tôi bởi tôi khẳng định rằng trình độ điều khiển xe đua của phụ nữ không hề thua kém nam giới”.

choXe.net (Car and Sport)
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Mình thích Dani từ lâu rồi, chặng INdy Car nào cũng xem, đến chặng Dani dành chiến thắng thì lại đi ngủ ( đua 12 giờ đêm).

Trời..tớ thua cậu luôn..đúng là trùm đua xe..tớ có biết đôi chút về INDY nhưng chỉ xem lại dc thôi..ko xem Live dc tại vì chẳng biết kêbnh nào chiếu
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Steffi Graf

1163577515.jpg


Ngày sinh:
14/06/0969

Nơi sinh:
Mannheim, Đức

Quốc tịch
Đức

Cá nhân
Cao-Nặng 1,76m-64kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1982 Nghỉ thi đấu 1999

Đánh đơn
Thắng/Thua 902/115
Danh hiệu 107
Hạng cao nhất 1 (17/8/1987)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1988, 1989, 1990, 1994)
Pháp mở rộng: vô địch (1987, 1988, 1993, 1995, 1996, 1999)
Wimbledon: vô địch (1988, 1989, 1991, 1992, 1993, 1995, 1996)
Mỹ mở rộng: vô địch (1988, 1989, 1993, 1995, 1996)

Đánh đôi
Thắng/Thua 173/72
Danh hiệu 11
Hạng cao nhất 5 (21/11/1988)

Olympic
Huy chương vàng Đánh đơn Seoul 1988
Huy chương đồng Đánh đôi Seoul 1988
Huy chương bạc Đánh đơn Barcelona 1992

Theo Answers

Steffi Graf được cha là Peter Graf (sau này huấn luyện viên tennis của cô) tập chơi quần vợt từ lúc 3 tuổi bằng cây vợt gỗ mà sân tập chính là phòng khách của gia đình. Cô bắt đầu ra sân tập lúc lên 4 và chơi ở tham dự các giải đấu từ lúc 5 tuổi. Graf bắt đầu thắng thường xuyên các giải trẻ và đến năm 1982, cô vô địch U12 và U18 Châu Âu.

Graf tham dự giải đấu chuyên nghiệp đầu tiên là vào tháng 10/1982 tại Filderstadt, Đức. Từ khi bắt đầu chơi đầy đủ một mùa giải chuyên nghiệp năm 1983, cô bé 13 tuổi đã xếp hạng 124 thế giới. Trừ chiếc huy chương vàng Olympic 1984 tại Los Angeles, cô không dành được một danh hiệu nào trong vòng ba năm nhưng vị trí của cô trên bảng xếp hạng ngày một tiến bộ: từ hạng 98 năm 1983 đến hạng 22 năm 1984 và hạng 6 năm 1985.

Thời gian biểu của Graf rất nghiêm ngặt và đều được sắp xếp bởi bố của cô. Cô rất ít tham gia các giải thi đấu mà thay vào đó là thời gian dành cho tập luyện. Trung bình một ngày cô tập hơn 4 tiếng đồng hồ. Với cách tập luyện và thi đấu như vậy, tài năng của Graf không sớm nở rộ như các tay vợt tài năng khác mà thay vào đó là sự tiến bộ rất vững chắc.

Tháng 4/1986, Graf đã có được danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp khi đánh bại huyền thoại Chris Evert tại giải thi đấu được tổ chức ở Nam Carolina, Mỹ. Cô tiếp tục dành được 7 danh hiệu trong năm đó và kết thúc năm cô xếp vị trí thứ 3.

Năm 1988 là năm thành công nhất trong sự nghiệp của cô. Bắt đầu bằng danh hiệu Úc mở rộng khi đánh bại Chris Evert. Cô bảo vệ thành công chức vô địch Pháp mở rộng khi nhẹ nhành đánh bại Natalia Zvereva trong một trận đấu chỉ kéo dài 32 phút. Tiếp đến là Wimbledon, nơi mà Navratilova đã giữ chiếc cúp 6 lần liên tiếp từ 1982 đến 1987. Cô hạ ngục Navratilova sau 3 ván đấu và chấm dứt sự thống trị của tay vợt huyền thoại này.

Đánh bại Sabatini trong trận chung kết Mỹ mở rộng, Steffi Graf hoàn tất trọn bộ Grand Slam chỉ trong một năm, (từ trước tới nay chỉ có hai tay vợt làm được điều này là Maureen Connolly-1953, Margaret Court- 1970). Với chiếc huy chương vàng Olympic Seoul 1988, cô trở thành người duy nhất trong lịch sử quần vợt thế giới nhận được danh hiệu "Grand Slam Vàng" (đoạt cùng lúc 4 Grand Slam và chiếc huy chương vàng Olympic môn quần vợt).

Trong sự nghiệp của mình cô đã có 107 danh hiệu đơn (trong đó có 22 danh hiệu Grand Slam, chỉ thua kỷ lục 24 danh hiệu của Margaret Court) và 11 danh hiệu đôi. Graf thắng 7 danh hiệu Wimbledon, 6 Pháp mở rộng, 5 Mỹ mở rộng và 4 Úc mở rộng, là người duy nhất thắng ít nhất 4 danh hiệu Grand Slam mỗi năm. Cô là người duy nhất có được kỷ lục 186 tuần liên tiếp giữ vị trí số một thế giới.

thethao.timnhanh.com
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Juan Carlos Ferrero

1162974574.jpg

Ngày sinh:
12/02/0980

Nơi sinh:
Onteniente, Tây Ban Nha

Quốc tịch
Tây Ban Nha

Cá nhân
Cao-Nặng 1,82m-72kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1998

Đánh đơn
Thắng/Thua 309/151
Danh hiệu 11
Hạng cao nhất 1 (8/9/2003)
Thành tích Grand Slam
Pháp mở rộng: vô địch (2003)

Đánh đôi
Thắng/Thua 4/22
Danh hiệu 0
Hạng cao nhất 198 (3/2/2003)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 11/9/2006

Ferrero nổi lên từ năm 1998 khi anh lọt vào trận chung kết Roland Garros dành cho các tay vợt nghiệp dư. Anh thua tay vợt Fernando Gonzalez nhưng vẫn kết thúc năm với vị trí 17 khá ấn tượng và bắt đầu chuyển sang chơi chuyên nghiệp.

Giải đấu ở Casablanca năm 1999 là giải đấu đầu tiên mà Ferror tham dự, anh chơi rất ấn tượng và lọt tới bán kết. Tháng 8 năm đó, anh tham gia lần đầu tiên vào giải Mỹ mở rộng và sau đó một tháng, anh dành được danh hiệu vô địch đầu tiên trong sự nghiệp của mình ở Mallorca.

Ferrero tiếp tục được đánh giá là một tay vợt triển vọng trong năm 2000. Anh đã lọt đến 2 trận chung kết được tổ chức ở Dubai và Barcelona, đồng thời giúp đổi tuyển Tây Ban Nha vô địch Davis Cup khi đánh bại Lleyton Hewitt và Patrick Rafter của đội Úc. Anh có một màn trình diễn tuyệt vời tại giải Pháp mở rộng khi lần đầu tiên tham dự đã lọt tới trận bán kết và chỉ để thua tay vợt sau này đăng quang giải đấu năm đó là Gustavo Kuerten.

Năm 2001, Ferreror đã chứng tỏ mình là một trong những tay vợt chơi trên sân đất nện tốt nhất khi thắng cả 3 danh hiệu ở Estori, Barcelona và Rome, đồng thời lần thứ 2 liên tiếp lọt vào bán kết giải Pháp mở rộng. Anh thắng giải đấu ở Dubai và xếp hạng 5 thế giới.

Năm 2002, Ferrero có được trận chung kết Grand Slam đầu tiên của sự nghiệp trong giải Pháp mở rộng. Được đánh giá là một tay vợt mạnh ở mặt sân đất nện nhưng anh đã để thua người đồng hương Albert Costa trong một trận đấu đầy thất vọng. Sau thất bại đó, anh dành được hai danh hiệu quan trọng khác được tổ chức ở Monte Carlo và Hồng Kông, đồng thời kết thúc giải Tennis Master Cup với vị trí thứ 2. Cuối năm, anh leo lên vị trí thứ tư của bảng xếp hạng ATP.

Ferrero trải qua năm 2003 đầy hạnh phúc khi anh liên tiếp gặt hái được rất nhiều thành công ở các giải đấu lớn. Đầu tiên là 2 chiến thắng ở Monte Carlo và Valencia, sau đó là ngôi vô địch giải đấu trên sân đất nện sở trường Pháp mở rộng. Đánh bại hai tay vợt mạnh là Lleyton Hewitt và Andre Agassi, Ferrero bước vào trận chung kết Mỹ mở rộng gặp tay vợt chủ nhà Andy Roddick.

Tuy thất bại nhưng với chuỗi thành tích ấn tượng trước đó, anh chính thức dành được ngôi vị số một thế giới. Anh bổ xung vào bảng thành tích của mình bằng danh hiệu đoạt được ở Madrid và nhận được danh hiệu "Vận động viên xuất sắc nhất năm" do đích thân nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos trao tặng. Kết thúc năm anh xếp vị trí thứ 3.

Chấn thương đã tấn công Ferrero đã khiến anh sa sút rất nhiều trong năm 2004. Sau khi lọt vào bán kết Úc mở rộng (thua Roger Federer), anh mắc bệnh thủy đậu và phải nằm dưỡng bệnh suốt tháng 3. Lành bệnh xong, Ferrero tham dự Monte Carlo, bị loại ngay vòng đấu đầu tiên và mắc phải chấn thương buộc anh ngồi ngoài thêm một tháng nữa.

Ngày 8/5, Ferrero bị chấn thương xương sườn và cổ tay sau khi bị ngã trong một buổi tập. Mục tiêu bảo vệ ngôi vị vô địch Pháp mở rộng chấm hết khi Ferrero cùng với chấn thương chưa lành của mình đã không thể vượt qua được Igor Andreev ở vòng 2. Anh phải nghỉ ngơi đến hết năm và lần đầu tiên trong 5 năm, anh bị rơi khỏi tốp 30 cây vợt dẫn đầu.

Năm 2005, Ferrero bình phục chấn thương và bắt đầu quyết tâm lấy lại phong độ đỉnh cao của mình. Anh lọt tới trận bán kết Monte Carlo Masters, chung kết Open Seat Godo ở Barcelona và chung kết giải đấu ở Vienna. Kết thúc năm 2005, anh xếp vị trí 17.

Năm 2006 anh lọt vào chung kết Cininnati Master Serie và để thua Andy Roddick. Trước đó để đi đến trận chung kết, anh đã đánh bại các tay vợt mạnh như James Blake (hạng 5 thế giới), Rafael Nadal (hạng 2) và Tommy Robredo (hạng 7).

Mặc dù đã từng là tay vợt đứng đầu bảng xếp hạng ATP, nhưng thành tích của Ferrero ở Wimbledon lại nghièo nàn, anh chỉ mới hai lần lọt tới vòng 4 của giải.

thethao.timnhanh.com
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Jennifer Capriati


1163063396.jpg

Ngày sinh:
29/03/0976

Nơi sinh:
New York, Mỹ

Quốc tịch
Mỹ

Cá nhân
Cao-Nặng 1,71m-73kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1990

Đánh đơn
Thắng/Thua 430/176
Danh hiệu 14
Hạng cao nhất 1 (15/10/2001)
Thành tích Grand Slam
Úc mở rộng: 2 lần vô địch (2001, 2002)
Pháp mở rộng: 1 lần vô địch (2001)

Đánh đôi
Thắng/Thua 65/50
Danh hiệu 1
Hạng cao nhất 28 (2/3/1992)

Olympic
Huy chương vàng Đánh đơn Barcelona 1992

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 11/8/2006

Capriati được chơi tennis từ khi còn là một cô bé mới chập chững đi. Năm 1986, gia đình cô chuyển tới Florida và đây cũng là thời gian mà tài năng thiên bẩm của cô bé 10 tuổi dần được hình thành. Cô bắt đầu tham dự vào một khoá huấn luyện đặc biệt do chính Jimmy Evert - cha của Chris Evert - huấn luyện.

Năm 1989, Capriati đã gây một tiếng vang lớn trong làng quần vợt khi là tay vợt trẻ tuổi nhất đoạt danh hiệu Pháp mở rộng dành cho các tay vợt trẻ ở nội dung đánh đơn khi mới 13 tuổi 2 tháng (kỷ lục được duy trì đến năm 1993 thì bị Martina Hingis phá vỡ lúc 12 tuổi). Cũng trong năm đó, cô đoạt luôn danh hiệu đánh đơn ở Mỹ mở rộng và đánh đôi ở cả Mỹ mở rộng và Wimbledon (đánh cặp với Meredith McGrath).

Ba tuần sau sinh nhật lần thứ 14, Capriati đánh dấu một mốc mới trong sự nghiệp của mình khi chính thức chuyển sang chơi chuyên nghiệp vào ngày 5/3/1990. Trong giải đấu đầu tiên khi chuyển lên chơi chuyên nghiệp được tổ chức ở Boca Raton, Florida, cô đã đánh bại 4 tay vợt hạt giống trở thành tay vợt trẻ nhất trong lịch sử giải lọt đến trận chung kết. Tuy để thua ở trận đấu đó, cô được tạp chí Sport Illustrated đánh giá là một tay vợt đầy triển vọng.

Đúng ba tháng sau, lúc 14 tuổi 3 tháng, Capriati trở thành tay vợt trẻ nhất lọt vào bán kết Pháp mở rộng và chỉ chịu thua tay vợt vô địch giải đấu năm đó là Monica Seles. Cô lọt đến vòng 4 Wimbledon, Mỹ mở rộng và dành được danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp khi chiến thắng giải đấu được tổ chức ở San Juan, Puerto Rica vào tháng 10. Kết thúc năm cô đứng vị trí thứ 8 WTA - một thành tích quá xuất sắc cho một tay vợt mới 14 tuổi.

Năm 1991, Capriati lọt vào bán kết Wimbledon và Mỹ mở rộng. Cô trở thành tay vợt trẻ nhất lọt vào bán kết Wimbledon khi hạ đương kim vô địch Martina Navratilova ở trận tứ kết, chấm dứt 14 năm thống trị Wimbledon của Navratilova. Cũng trong năm đó cô đoạt được 2 danh hiệu đơn và 1 danh hiệu đôi.

Khoảng khắc thành công nhất trong sự nghiệp của Capriati chính là lúc cô đoạt huy chương vàng ở Olympic Barcelona 1992 sau khi đánh bại Steffi Graf - người đã dành được huy chương vàng 4 năm trước ở Seoul.

Tưởng như tấm huy chương vàng Olympic sẽ cho Capriati một tương lai sáng sủa nhưng trái lại, sau sự kiện đó, cô đã phải trải qua một giai đoạn khó khăn trong sự nghiệp.

Sau một vài trận thua đầy thất vọng năm 1993, cô đã rút lui khỏi các giải đấu để tập trung vào việc học ở trường. Cô gặp một rắc rối lớn bị cảnh sát thẩm vấn do liên quan tới một vụ ăn cắp ở siêu thị vào tháng 12/1993. Tháng 5/1994, tài năng quần vợt này phải vào trại giam khi bị bắt về tội sử dụng cần sa. Tháng 11/1994, sau khi bị loại ngay từ vòng đầu tiên của một giải đấu, cô rút lui khỏi quần vợt 15 tháng.

Năm 1996, Capriati chính thức quay lại với quần vợt chuyên nghiệp với mục tiêu tiếp tục phong độ đỉnh cao trước đây. Nhưng cũng phải đợi đến năm 1999 tại giải đấu ở Strasbourg, cô mới có được danh hiệu đầu tiên trong vòng 6 năm.

Năm 2001, 11 năm sau ngày bắt đầu chơi quần vợt, Capriati cuối cùng cũng dành được danh hiệu Grand Slam đầu tiên khi đánh bại Martina Hingis trong trận chung kết Úc mở rộng. Sau đó 5 tháng, cô đánh bại Kim Clijsters để dành danh hiệu vô địch Pháp mở rộng. Tháng 10/2001, Capriati bước lên đầu bảng xếp hạng WTA. Lần thứ 3 Capriati đoạt được danh hiệu Grand Slam khi bảo vệ thành công chức vô địch Úc mở rộng, và lần này đối thủ của cô cũng là Martina Hingis. Đây được coi là thời kỳ đỉnh cao phong độ của Capriati.

Thời gian gần đây, chấn thương liên miên đã khiến cô không thể tham dự các giải đấu thường xuyên và điều tất nhiên là phong độ sa sút nghiêm trọng. Cô hy vọng có thể sớm lấy lại phong độ để quay lại tham dự các giải đấu của WTA.

thethao.timnhanh
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Anna Kournikova


1162795459.jpg

Ngày sinh:
07/01/1981

Nơi sinh:
Moscow, Nga

Quốc tịch
Nga

Cá nhân
Cao-Nặng 1,73m-56kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1995 Nghỉ thi đấu 2003

Đánh đơn
Thắng/Thua 209/129
Danh hiệu 0
Hạng cao nhất 8 (20/11/2000)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: tứ kết (2000)
Pháp mở rộng: vòng 4 (1999)
Wimbledon: bán kết (1997)
Mỹ mở rộng: vòng 4 (1996,1998,1999)

Đánh đôi
Thắng/Thua 200/71
Danh hiệu 13
Hạng cao nhất 1 (22/11/1999)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 9/7/2006

Ngay từ lúc 13, 14 tuổi, Kournikova đã là một tay vợt trẻ hàng đầu khi cô đã dành được nhiều chiến thắng ở các giải nghiệp dư, nổi bật là giải nghiệp dư Ý mở rộng năm 1995. Kết thúc năm đó, cô dành được danh hiệu Vô địch nghiệp dư U18 Châu Âu đồng thời đoạt được chức Vô địch nghiệp dư U18 Thế giới.

Tay vợt người Nga này có trận thi đấu chuyên nghiệp đầu tiên lúc 14 tuổi khi tham dự Fed Cup, trở thành tay vợt trẻ nhất tham dự và dành được thắng lợi. Lúc 15 tuổi, cô lọt đến vòng 4 của giải Mỹ mở rộng, cuộc phiêu lưu của cô bé 15 tuổi chỉ dừng lại khi thất thủ trước tay vợt số 1 thế giới lúc ấy là Steffi Graf.

Kournikova là thành viên của phái đoàn Nga tham dự Olympic 1996 tại Atlanta. Năm 1997 khi 16 tuổi, cô lọt vào bán kết Wimbledon trước khi thất bại trước Martina Hingis (vô địch giải đấu này). Kết thúc năm 1998, cô lọt vào tốp 20 tay vợt hàng đầu và có những chiến thắng ấn tượng trước những tay vợt xuất sắc lúc đó như Martina Hingis, Lindsay Davenport, Steffi Graf.

Cô đã dành được 16 danh hiệu đánh đôi bao gồm 2 chiến thắng ở giải Úc mở rộng năm 1999 và năm 2000 (2 danh hiệu dành được với Martina Hingis, người thường đánh cặp với cô từ năm 1999). Kournikova thật sự thành công ở nội dung đánh đôi khi bước lên ngôi vị số 1 thế giới bảng xếp hạng WTA.

Tuy nhiên thành tích đánh đơn của cô không có gì tiến triển sau năm 1999. Trong giai đoạn trước, Kournikova thường đứng trong tốp từ 10 đến 15 (cao nhất là hạng 8), tuy nhiên giờ đây cô đã không còn giữ vững trong vị trí đó nữa. Cô đã tham dự 130 giải thi đấu, nhưng chỉ có 4 giải đi đến được trận chung kết và chưa bao giờ dành được danh hiệu Grand Slam nào.

Năm 2003 chấn thương lưng nghiêm trọng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp của cô gái tóc vàng. Kournikova đã không đủ thể lực để tiếp tục tham gia vào quần vợt đỉnh cao nữa và từ lúc đó trở đi, cô không tham dự một giải đấu nào thuộc của WTA. Đó là một điều đáng tiếc đối với cô và cả với người hâm mộ. Kournikova đã tiếc nuối phát biểu trên tạp chí ELLE rằng nếu có đủ 100% sức khoẻ cô sẽ quay lại quần vợt và sẽ tiếp tục chinh phục những đỉnh cao mới. Thỉnh thoảng cô vẫn tham gia các trận đấu vì mục đích từ thiện.

Hầu hết tiếng tăm của Kournikova đến từ những thông tin bên lề về cuộc sống của cô. Từ khi bắt đầu ở Mỹ mở rộng năm 1996 lúc 15 tuổi, vẻ đẹp của Kournikova đã tạo một ấn tượng tốt trong giới mộ điệu và theo thời gian, số lượng hình ảnh của cô xuất hiện ngày càng nhiều trên các loại tạp chí. Kournikova được chọn vào danh sách 50 người phụ nữ đẹp nhất vào các năm 1998, 2000, 2002, 2003 và đồng thời được chọn là vận động viên nữ hấp dẫn nhất do ESPN bầu chọn.

tt.timnhanh
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Marat Safin


Ngày sinh:
27/01/0980

Nơi sinh:
Moscow, Nga

Quốc tịch
Nga

Cá nhân
Cao-Nặng 1,93m-88kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1997


Đánh đơn
Thắng/Thua 338/192
Danh hiệu 15
Hạng cao nhất 1 (20/11/2000)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (2005)
Pháp mở rộng: bán kết (2002)
Wimbledon: tứ kết (2001)
Mỹ mở rộng: vô địch (2000)

Đánh đôi
Thắng/Thua 79/93
Danh hiệu 1
Hạng cao nhất 71 (22/4/2002)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 27/8/2006

Safin sinh ra trong một gia đình đều chơi quần vợt. Rausa Islanova và Mubin Safin - ba mẹ của anh - đều đã là những tay vợt trong quá khứ và hiện tại Mubin đang huấn luyện đội tennis Spartak Tennis Club (nhiều tay vợt nổi tiếng đã ra lò từ đây, như: Anna Kournikova, Elena Dementieva, Anastasia Myskina). Anh đã tập luyện ở đây lúc nhỏ và đến năm 14 tuổi thì chuyển tới Valencia, Tây Ban Nha để theo một chương trình tập huấn đặc biệt mà không có ở Nga.

Năm 1998, Safin gây được sự chú ý cho giới quần vợt khi liên tiếp đánh bại Andre Agassi và đương kim vô địch Gustavo Kuerten ở giải Pháp mở rộng.

Safin giữ vị trí số 1 trong bảng xếp hạng ATP trong suốt 9 tuần trong năm 2000. Trong năm đó, anh thắng danh hiệu Grand Slam đầu tiên khi đánh bại tay vợt huyền thoại Pete Sampras trong trận chung kết Mỹ mở rộng.

Năm 2003, anh liên tiếp bị chấn thương ở các trận đấu khiến anh phải bỏ lỡ hầu hết các giải đấu trong năm.

Năm 2005, Safin lọt vào trận chung kết Úc mở rộng. Đây là lần thứ tư anh lọt đến trận chung kết trong giải đấu thuộc Grand Slam. Một lần chiến thắng ở Mỹ mở rộng năm 2000, hai lần thất bại ở Úc mở rộng vào năm 2002 và 2004. Và lần này thì anh đã đánh bại tay vợt chủ nhà Lleyton Hewitt để dành dành danh hiệu Grand Slam thứ 2 trong sự nghiệp.

Anh đã thắng năm danh hiệu Master Series trong sự nghiệp của mình. Lần đầu tiên là ở năm 2000 khi anh dành danh hiệu ở Toronto, Canada. Sau đó là ba danh hiệu vào các năm 2000, 2002, 2004 ở Paris và một danh hiệu ở Madrid năm 2004. Anh cũng đã dành được Davis Cup vào năm 2002 khi đánh bại tuyển Pháp.

Không tham dự Mỹ mở rộng 2005 và Úc mở rộng 2006, do bị chấn thương đầu gối nghiêm trọng nên thứ hạng của Safin ở ATP đã sút giảm rất nhiều. Năm 2006 anh bình phục sau chấn thương và tham dự vào các giải thuộc hệ thống ATP Master bao gồm Indian Wells, Miami, Monte Carlo, Rome và Hamburg.

Mặc dù kết quả nghèo nàn tại các giải đấu này, Safin vẫn cho thấy mình là một tay vợt hàng đầu trên sân đất cứng với với chiến thắng tuyệt vời trước tay vợt triển vọng người Pháp Richard Gasquet khi đội Nga và Pháp gặp nhau ở Davis Cup. Trước sự sự cuồng nhiệt của khán giả Pháp, anh đã cho thấy sự bình tĩnh của mình và đánh bại Gasquet trong một trận đấu 5 ván kéo dài 3h45. Trận đấu đó được đánh giá là trận đấu tốt nhất của Safin kể từ trận thắng ở chung kết Úc mở rộng năm 2006.

Ở giải Mỹ mở rộng năm nay, Safin đã dần lấy lại được phong độ của mình khi anh đánh bại tay vợt hạng 4 thế giới David Nalbandian ở vòng 2. Nhưng anh không tiến xa được giải này khi bị tay vợt hạng 2 thế giới Tommy Haas chặn lại ở vòng 4.

thethao.timnhanh.com
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Justine Henin-Hardenne

1158834032.jpg



Ngày sinh:
01/06/1982

Nơi sinh:
Liege, Bỉ

Quốc tịch
Bỉ

Cá nhân
Cao-Nặng 1,68m-57kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1999

Đánh đơn
Thắng/Thua 402/97
Danh hiệu 28
Hạng cao nhất 1 (20/10/2003)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (2004)
Pháp mở rộng: vô địch (2003, 2005, 2006)
Wimbledon: chung kết (2001, 2006)
Mỹ mở rộng: vô địch (2003)

Đánh đôi
Thắng/Thua 47/34
Danh hiệu 2
Hạng cao nhất 23 (14/1/2002)

Olympic
Huy chương vàng Đánh đơn Athens 2004

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 2/9/2006

Những cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp Justine Henin-Hardene

1/6/1982: chào đời tại Liege, Bỉ.

1999: bắt đầu chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp; vô địch ngay tại giải WTA đầu tiên trong sự nghiệp (ở Antwerp); giúp Bỉ vào bán kết Fed Cup.

2000: không thể tham dự French Open vì chấn thương tay; đánh bại hạt giống số 12 Anna Kournikova trên đường vào vòng 4 US Open; tấn công vào tốp 50 thế giới (kết thúc năm ở vị trí 48 trên bảng xếp hạng WTA).

2001: để thua đồng hương Kim Clijsters tại bán kết French Open dù đã dẫn 6-2, 4-2; trở thành tay vợt Bỉ đầu tiên vào chung kết Wimbledon (để thua Venus Williams); vô địch 3 giải WTA; kết thúc năm ở vị trí số 7 thế giới.

2002: đăng quang trên sân đất nện Berlin nhưng bị loại ngay từ vòng một French Open; lại gác vợt dưới tay Venus Williams tại bán kết Wimbledon; leo lên vị trí số 4 thế giới.

2003: dừng bước ở bán kết Australian Open (vẫn để thua Venus Williams); trở thành tay vợt Bỉ đầu tiên vô địch Grand Slam khi đánh bại Kim Clijsters 6-0, 6-4 ở chung kết French Open; giành danh hiệu Grand Slam thứ hai (tiếp tục vượt qua Clijsters tại chung kết US Open); trở thành ngôi sao nữ thứ 13 giữ ngôi vị số một bảng xếp hạng WTA sau chức vô địch ử Swisscom Challenge.

2004: giành danh hiệu Grand Slam thứ ba trong vòng chưa đầy một năm (thêm một lần hạ Kim Clijsters ở chung kết Australian Open); đoạt huy chương vàng Athens 2004.

2005: trở lại sân đấu sau hơn nửa năm điều trị chấn thương; giành danh hiệu French Open thứ hai sau trận chung kết một chiều với Mary Pierce.

2006: bỏ cuộc giữa chừng trong trận chung kết Australian Open với Amelie Mauresmo (vì bị ốm), trở thành ngôi sao nữ thứ 5 trong kỷ nguyên Open bảo vệ thành công danh hiệu French Open.

Theo VietNamNet
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Rafael Nadal

1158825152.jpg

Ngày sinh:
03/01/1986

Nơi sinh:
Mallorca, Tây Ban Nha

Quốc tịch
Tây Ban Nha

Cá nhân
Cao-Nặng 1,85m-85kg Tay thuận Trái
Chơi chuyên nghiệp 2001


Đánh đơn
Thắng/Thua 16945
Danh hiệu 17
Hạng cao nhất 2 (25/7/2005)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vòng 4 (2005)
Pháp mở rộng: vô địch (2005, 2006)
Wimbledon: chung kết (2006)
Mỹ mở rộng: tứ kết (2006)

Đánh đôi
Thắng/Thua 46/28
Danh hiệu 3
Hạng cao nhất 26 (488/2005)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 12/8/2006

Thành công sớm

Năm 2003 cái tên Nadal mới chỉ được biết đến trong bóng đá. Mọi người vẫn nhớ một lá chắn Miguel Angel Nadal vững chắc trong màu áo Barcelona, Mallorca và đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha. Nhưng giờ đây, gia đình Nadal được cả thế giới biết đến bởi chàng trai 18 tuổi Rafael Nadal.

Nadal sinh tại Manacor, thành phố lớn thứ hai tại đảo Mallorca. Năm lên 4 tuổi, tình cờ cậu bé Nadal gặp người chú Toni tại một câu lạc bộ tennis. Cây vợt ngay lập tức thu hút cậu bé. Và cứ mỗi cuối tuần, cậu lại đến xem chú mình thi đấu. Phát hiện niềm đam mê của đứa cháu yêu, Toni bắt đầu giành thời gian hướng dẫn Nadal.

8 tuổi, cậu bé Nadal đã có chức vô địch đầu tiên ở độ tuổi mình tại Balearic Islands. 11 tuổi, Nadal xuất hiện trong những cuốn sách về tennis với tư cách là một ngôi sao quần vợt tương lai Đến mùa xuân năm 2003, anh trở thành tay vợt thứ 9 trong lịch sử giành được chiến thắng trong một giải chuyên nghiệp khi chưa đón sinh nhật lần thứ 16.

Lúc vượt qua Ramon Delgado, Nadal mới 15 tuổi 10 tháng. Boris Becker, nhà vô địch Wimbledon 17 tuổi, cũng phải thốt lên "Ở độ tuổi như cậu ấy, tôi chưa được xuất sắc như thế."

Nadal chỉ cần một trận đấu quan trọng để khẳng định tài năng. Ngày 4/12/2004, anh có cơ hội góp mặt vào trận chung kết Davis Cup giữa chủ nhà Tây Ban Nha và Mỹ. Dưới sự chứng kiến của 27 000 khán giả ở Sevilla (một con số kỷ lục trong lịch sử Davis Cup), chàng trai 18 tuổi phải đương đầu với tay vợt số 2 thế giới Andy Roddick.

Trừ những người Tây Ban Nha lạc quan nhất, không ai dám tin vào cơ hội của Nadal. Nhất là khi đến thời điểm đó, Roddick đang có thành tích 12 - 0 ở Davis Cup. Nhưng chiến thắng chung cuộc 3 - 1 lại thuộc về chàng Nadal quả cảm. Bỗng chốc Nadal trở thành người hùng của xứ sở bò tót.

Thậm chí, anh còn vinh dự được nhận lời chúc mừng từ nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos. Nadal cũng là tay vợt trẻ nhất trong lịch sử đăng quang tại cúp quần vợt đồng đội danh giá nhất thế giới.

Thuận tay trái - điểm mạnh riêng

Hiện tại, Nadal là một trong ba tay vợt thuận tay trái có mặt trong tốp 40 tay vợt mạnh nhất thế giới. Và anh là người cao nhất trong ba người ít ỏi ấy. Điều này mang lại cho anh một lợi thế đặc biệt. Những pha đánh thuận tay của anh luôn tạo được tính bất ngờ. Các đối thủ bên kia lưới thường quen chơi với những người thuận tay phải.

Tay vợt số một thế giới Roger Federer cũng phải thừa nhận "Bởi vì Nadal thuận tay trái, mọi việc trên sân thay đổi rất nhiều. Những pha đánh thuận tay của anh ấy rất lợi hại. Ngay cả khi đang chạy, anh ấy vẫn có thể xoáy bóng hiểm hóc. Nadal có thể thắng mọi pha đánh thuận tay của mình."

Dù vậy, hiện tại các đối thủ vẫn luôn khai thác triệt để điểm yếu từ các pha giao bóng của Nadal. Với những cú giao bóng có tốc độ "thường thường bặc trung" 180 km/h, anh chỉ đỡ bị thiệt thòi trên mặt sân đất nện.

Giao bóng "hiền lành" là một trong những nguyên nhân được giới chuyên môn lý giải về thất bại của Nadal trước Federer tại chung kết giải Miami Masters. Tuy nhiên, Nadal vẫn còn rất nhiều thời gian để hoàn thiện động tác giao bóng của mình. Chiều cao 1m82 có thể xem là một thuận lợi cho anh trong công việc này.

Khi được hỏi về kỹ năng tiếp theo cần phải hoàn thiện, Nadal thản nhiên đáp: tiếng Anh. Do vốn tiếng Anh chưa tốt, chàng trai trẻ người Tây Ban Nha đã phải sử dụng tiếng mẹ đẻ trong cuộc họp báo sau trận chung kết ở Miami nói trên.

Rất có thể khi Nadal khắc phục hạn chế trong giao bóng, người hâm mộ sẽ được thấy anh trả lời phỏng vấn trơn tru bằng tiếng Anh sau khi lên bục nhận danh hiệu vô địch.

Tiến bộ vượt bậc

Bước vào mùa giải 2005, vị trí của Nadal trên bảng xếp hạng ATP Entry Ranking và ATP Champion Race lần lượt là 51 và 46. Chỉ sau hơn 3 tháng, anh đã thực hiện một cuộc "đại nhảy vọt" tấn công vào tốp 10 tay vợt hàng đầu thế giới.

Theo bảng xếp hạng mới nhất do ATP công bố vào ngày 18/04, Nadal xếp thứ 11 trên ATP Entry Ranking. Vị trí của anh trên ATP Champion Race (chỉ tính kết quả thi đấu của các tay vợt từ đầu năm 2005) thậm chí còn ấn tượng hơn thế nhiều.

Nadal qua mặt hàng loạt những ngôi sao Marat Safin, Andy Roddick, Lleyton Hewitt hay Andre Agassi để leo lên vị trí thứ 2, ngay sau Roger Federer. Như vậy, tính từ đầu năm tới giờ, anh đang là tay vợt có thành tích tốt thứ hai thế giới - một thành tích làm sửng sốt cả những người vốn đã tiên đoán trước về thành công mang tên Nadal

Thành tích đáng nể trên là một kết quả hợp lý sau những nỗ lực không mệt mỏi suốt thời gian qua của Nadal. Trước khi để thua Federer ở Miami, anh đã giành hai danh hiệu liên tiếp tại Costa Do Sauipe (Brazil) và Acapulco (MexicO:-). Và ngày chủ nhật 17/04/2005, Nadal trở thành tay vợt trẻ thứ hai trong lịch sử vô địch một giải Masters Series khi đăng quang ở Monte Carlo.

Cho đến nay, anh đã dành được hai danh hiệu Roland Garos liên tiếp và được mệnh danh là "Ông vua sân đất nện".

Theo VietNamNet
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Roger Federer


1158045333.jpg

Ngày sinh:
08/01/1981

Nơi sinh:
Basel, Thụy Sĩ

Quốc tịch
Thụy Sĩ

Cá nhân
Cao-Nặng 1,85m-80kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1998 Tiền thưởng nhận được $26,346,458

Đánh đơn
Thắng 463-125
Danh hiệu 41
Hạng cao nhất 1 (2/2/2004)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (2004,2006)
Pháp mở rộng: chung kết (2006)
Wimbledon: vô địch (2003,2004,2005,2006)
Mỹ mở rộng: vô địch (2004,2005,2006)

Đánh đôi
Thắng-Thua 102-64
Danh hiệu 7
Hạng cao nhất 24 (9/6/2003)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 11/9/2006

Roger Federer sinh ngày 8/08/1981 ở Basel, Thuỵ Sĩ, 24 tuổi.

Các danh hiệu Grand Slam: 8 (Australia mở rộng 2004, 2006; Wimbledon 2003, 2004, 2005, 2006; Mỹ mở rộng 2004, 2005). Năm 1998: Lọt đến vòng tứ kết giải Toulouse trong sự kiện thứ hai thuộc hệ thống ATP anh tham chiến. Năm 1999: Trở thành tay vợt trẻ nhất lọt vào tốp 100. Năm 2000: Lọt vào trận chung kết đầu tiên trong sự nghiệp tại một giải đấu ở Marseille.

Thất thủ trong trận đấu tranh huy chương vàng ở Olympic Sydney trước tay vợt người Pháp Arnaud Di Pasquale. Năm 2001: Giành danh hiệu đầu tiên ở Milan, kết thúc năm với vị trí là tay vợt Thuỵ Sĩ hàng đầu.

Lần đầu tiên lọt vào đến vòng tứ kết một giải Gran Slam, đó là giải Pháp mở rộng.

Lọt đến vòng tứ kết giải Wimbledon sau khi chấm dứt chuỗi 31 trận thắng của huyền thoại Pete Sampras ở vòng 4. Năm 2002: Đoạt ngôi vô địch ở Sydney, Hamburg và Vienna.

Chịu liên tiếp vài cú xốc khi bị loại ngay tại vòng 1 ở các giải Roland Garros và Wimbledon.

Đưa Thuỵ Sĩ tung hoành ở giải Davis Cup.

Lọt vào trận bán kết Masters Cup, thất thủ trước tay vợt cuối cùng đăng quang ngôi vô địch là Lleyton Hewitt. Năm 2003: Năm thứ hai liên tiếp phải xách va li về nước ngay khi vòng đấu đầu tiên giải Pháp mở rộng kết thúc.

Trở thành tay vợt nam đầu tiên của Thuỵ Sĩ đoạt được một danh hiệu Grand Slam sau khi đánh bại Mark Philippoussis trong trận chung kết để nâng cao chiếc vương miện Wimbledon.

Hoàn tất năm ở vị trí thứ hai thế giới, giành một lúc 7 danh hiệu ATP trong toàn mùa giải.

Năm 2004: Trở thành người đàn ông thứ 23, và là tay vợt đầu tiên của Thụy Sĩ, đứng đầu bảng xếp hạng ATP.

Đoạt danh hiệu Grand Slam thứ hai của anh tại giải Úc mở rộng sau khi đo ván Marat Safin trong trận chung kết.

Tiếp tục đăng quang ở giải Wimbledon sau khi vượt qua Andy Roddick trong trận đấu cuối cùng.

Giành giải Mỹ mở rộng đầu tiên khi đánh bại tay vợt Hewitt trong ba séc với các tỉ số là 6-0 7-6 6-0 để trở thành tay vợt đầu tiên kể từ khi tay vợt người Thuỵ Điển Mats Wilander (1988) đoạt được 3 danh hiệu Grand Slam trong cùng một năm.

Và anh cũng là người đàn ông đầu tiên của kỉ nguyên Open Era (các giải quần vợt mở rộng) giành được 4 tước hiệu Grand Slam trong 4 trận chung kết đầu tiên mình tham dự. Năm 2005 (tháng 1): Chỉ định ông Tony Roche, người Australia làm huấn luyện viên mới cho mình.

Không thể đi tới trận đấu cuối cùng của hai giải Úc và Pháp mở rộng, chỉ dừng lại ở vòng bán kết.

Giành danh hiệu Wimbledon lần thứ 3 liên tiếp để trở thành tay vợt thứ 8 trong lịch sử giải đấu này và thứ ba trong kỉ nguyên Open Era đạt được kì tích trên. Cũng trong thời gian này, anh mở rộng chuỗi trận bất bại của mình trên mặt sân cỏ lên con số 36.

Khuất phục Agassi ở trận chung kết giải Mỹ mở rộng để cùng với các tượng đài Bill Tilden và Don Budge trở thành những tay vợt giành được cả hai danh hiệu Wimbledon và Mỹ mở rộng trong cùng một năm.

Cải thiện phong độ của mình trên mặt sân cứng lên con số 45-1, kể cả chuỗi 35 trận thắng liên tiếp, sánh ngang với những gì huyền thoại Pete Sampras lập được ở kỉ nguyên chuyên nghiệp. “Long bào áo mũ” tại giải Mỹ mở rộng đánh dấu trận thắng thứ 23 liên tiếp của anh trong một trận chung kết.

Kỉ lục chiến thắng trong một trận chung kết của anh không được nâng lên con số 24 khi anh thua tay vợt David Nalbandian trong trận chung kết Masters Cup. Hoàn thành mùa giải với kỉ lục các trận thắng thua là 81-4.

2006: tháng 1: Đánh bại tay vợt Marcos Baghdatis để lần thứ hai đăng quang tại giải Úc mở rộng. Trở thành người đàn ông đầu tiên kể từ khi tay vợt Pete Sampras năm 1993-1994 giành được 3 danh hiệu Grand Slam liên tiếp.

Tháng 6: Thua trong trận chung kết giải Pháp mở rộng trước nhà ĐKVĐ Nadal. Thất bại này đã khiến anh phải cần một trận đấu nữa mới trở thành người đàn ông thứ 3 sau các tay vợt người Mỹ Don Budge và tay vợt người Úc Rod Laver thâu tóm được cả 4 danh hiệu Grand slam trong cùng một chuỗi thời gian.

Bảo toàn danh hiệu Halle trên mặt sân cỏ lần thứ 4 liên tiếp để quân bình với kỉ lục chuỗi 41 trận thắng liên tiếp ở kỉ nguyên chuyên nghiệp của huyền thoại Bjorn Borg trên mặt sân cỏ. Đánh bại tay vợt Pháp Richard Gasquet ở vòng đấu đầu tiên giải Wimbledon để biến kỉ lục của Borg vào dĩ vãng.

Tháng 7: Tăng số lượng danh hiệu Grand Slam của anh lên con số 8 bằng ngôi “vương” Wimbledon. Gia nhập cùng với Borg và Sampras để trở thành ba tay vợt đoạt được 4 chức vô địch Wimbledon liên tiếp ở nội dung đơn nam sau khi hạ gục hoàng đế sân đất nện Nadal trong trận chung kết hôm chủ nhật vừa qua.

Federer đã phá vỡ và cân bằng với nhiều kỉ lục của các huyền thoại nhưng chặng đường sự nghiệp của anh còn rất dài, hy vọng khi gác vợt ngôi sao người Thuỵ Sĩ sẽ trở thành tượng đài số 1 của làng banh nỉ thế giới.
Theo 24h
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Pete Sampras


1158139728.jpg

Ngày sinh:
12/07/1971

Nơi sinh:
Washington DC, Mỹ

Quốc tịch
Mỹ

Cá nhân
Cao-Nặng 1,85m-77kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1988 Nghỉ thi đấu 2003

Đánh đơn
Thắng/Thua 762/222
Danh hiệu 64
Hạng cao nhất 1 (12/4/1993)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1994, 1997)
Pháp mở rộng: bán kết (1996)
Wimbledon: vô địch (1993, 1994, 1995, 1997, 1998, 1999, 2000)
Mỹ mở rộng: vô địch (1900, 1993, 1995, 1996, 2002)

Đánh đôi
Thắng/Thua 64/70
Danh hiệu 2
Hạng cao nhất 27 (12/2/1990)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 14/9/2006

Anh sinh ngày 12/8/1971 tại Washington DC, Mỹ là con của Sam và Georgia Sampras - những người Hy Lạp di cư sang Mỹ. Khi còn bé, Sampras đã khám phá ra cây vợt tennis trong nhà kho của mình và rất thú vị với nó nên đã trải qua nhiều thời gian để đánh những quả bóng vào tường.

Năm 1978, cả gia đình Sampras di chuyển đến California. Nơi đây có khí hậu ấm áp nên đã tạo điều kiện cho cậu bé 7 tuổi có thể ra ngoài chơi bóng nhiều hơn. Tài năng chơi bóng của Sampras đã thực sự bộc lộ khi cậu tham gia vào CLB quần vợt Peninsula.

Khi mới 11 tuổi, anh ta đã học được cách giao bóng đầy sức mạnh và những cú vô lê chính xác mà những kỹ thuật đó sau này đã làm nên tên tuổi của anh.

Ông Peter Fisher - một bác sĩ khoa nhi và cũng là người yêu tennis cuồng nhiệt - đã phát hiện ra tài năng của Sampras và cũng chính ông là người thầy có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp tennis vẻ vang của cậu học trò mình.

Sampras bắt đầu chuyển sang chơi chuyên nghiệp năm 17 tuổi (1988). Anh dành được danh hiệu đánh đơn đầu tiên vào tháng 2/1990 tại Philadelphia. Tháng 8 cùng năm đó, anh đã tham dự Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp ở giải Mỹ mở rộng và lọt vào đến trận chung kết gặp một tay vợt Mỹ khác là Andre Agassi.

Anh đánh bại Agassi và trở thành tay vợt trẻ tuổi nhất dành danh hiệu vô địch Mỹ mở rộng khi mới 19 tuổi 28 ngày. Kể từ chiến thắng đó về sau, anh và Agassi trở thành kình địch của nhau trong suốt thập niên 1990. Tính tổng cộng, hai người đã gặp nhau 34 trận tron đó Sampras thắng 20 trận còn lại để thua 14 trận.

Sampras dành danh hiệu đầu tiên trong tổng số năm danh hiệu ATP Tour World Championships vào năm 1991. Năm tháng 4/1993, Sampras được xếp hạng 1 thế giới lần đầu tiên. Thành tích đó đã gây nhiều tranh cãi bởi vì vào thời điểm đó, anh chưa dành được danh hiệu Grand Slam nào.

Tuy vậy, Sampras đã chứng minh mình thật sự xứng đáng với ngôi vị số 1 thế giới bằng cách dành danh hiệu đầu tiên ở Wimbledon khi đánh bại cựu số 1 thế giới Jim Courier trong trận chung kết. Kết thúc năm đó, anh dành vị trí thứ nhất tuyệt đối và lập một kỷ lục là tay vợt đầu tiên vượt qua mốc 1000 điểm.

Anh dành được 3 chiến thắng Wimbledon liên tiếp từ năm 1993 tới 1995. Năm 1996 anh bất ngờ để thua Richard Krajicek ở trận tứ kết (người vô địch năm đó). Sau đó, Sampras đã lập một mạch chiến thắng 4 năm liên tiếp từ 1997 tới 2000 trở thành cây vợt thành công nhất trong lịch sử Wimbledon. Chiến thắng năm 2000 đã phá vỡ kỷ lục 12 danh hiệu Grand Slam của Roy Emerson.

Anh thắng liên tiếp 2 danh hiệu Mỹ mở rộng năm 95,96 và đồng thời dành danh hiệu Úc mở rộng 2 lần vào năm 94 và 97. Sở trường của Sampras là thi đấu trên mặt sân cỏ, tuy nhiên điểm yếu cố hữu của Sampras chính là sân đất nện bởi mặt sân này đã làm hạn chế sức mạnh lối chơi lên lưới của Sampras. Thành tích tốt nhất mà anh có được trên sân đất nện là lọt vào trận bán kết Pháp mở rộng năm 1996 .

Sau chiến thắng ở Wimbledon 2000, Sampras liên tiếp 2 năm liền lọt đến tận chung kết Mỹ mở rộng 2001, 2002. Nhưng phải chịu thất bại trước Marat Safin và sau đó là Lleyton Hewitt. Năm 2003, Sampras lần thứ 3 liên tiếp lọt đến trận chung kết Mỹ mở rộng và gặp lại Agassi - người mà anh ta đã gặp trong trận chung kết Grand Slam 12 năm trước.

Agassi là người chứng kiến sự ra đời và sự kết thúc của một huyền thoại. Khi chính 12 năm trước, Agassi thất bại trong trận chung kết Grand Slam đầu tiên của Sampras và nay Agassi lại chịu thất bại trước trận chung kết - cũng là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp quần vợt của Sampras. Chiến thắng đó đã nâng tổng số danh hiệu Grand Slam của anh lên con số kỷ lục 14.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Sampras đã dành được 64 danh hiệu đơn (bao gồm 14 danh hiệu Grand Slam và 11 danh hiệu ATP Master Series) và 2 danh hiệu đôi. Anh đã xếp hạng số1 thế giới 286 tuần và 6 lần liên tiếp kết thúc năm với vị trí số 1 từ năm 93 đến năm 98.

thethao,timnhanh.com
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Maria Sharapova

1157951020.jpg


Ngày sinh:
19/04/1987

Nơi sinh:
Nyagan, Nga

Quốc tịch
Nga

Cá nhân
Cao-Nặng 1,90m-68kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 2001

Đánh đơn
Thắng/Thua 230/54
Danh hiệu 15
Hạng cao nhất 1 (22/8/2005)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: bán kết (2005, 2006)
Pháp mở rộng: tứ kết (2004, 2005)
Wimbledon: vô địch (2004)
Mỹ mở rộng: vô địch (2006)

Đánh đôi
Thắng/Thua 23/16
Danh hiệu 3
Hạng cao nhất 41

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 13/9/2006

Cô tên thật là Maria Yuryevna Sharapova sinh ngày 19/4/2006. Ban đầu ba mẹ cô sống ở Belarus sau đó chuyển sang sống ở Nyagan, Siberia nước Nga sau thảm họa hạt nhân Chernobyl. Gia đình Sharapova chuyển sang sống ở Florida khi cô mới 9 tuổi, điều đó đã tạo điều kiện cho Sharapova được học tại học viện quần vợt nổi tiếng Nick Bollettieri.

Năm 2004 lần đầu tham dự Wimbledon, Maria Sharapova trở thành tay vợt nhỏ tuổi thứ 3 tham dự giải này (trước đó là Lottie Dod và Martina Hingis) và làm cả thế giới phải ngạc nhiên khi dành luôn chức vô địch giải này. Nước Nga chắc hẳn phải rất tự hào về cô vì đây là một người Nga lần đầu tiên đăng trong vòng lịch sử cả trăm năm của giải đấu.

Kể từ tháng 6/2004 cho đến trận bán kết Wimbledon năm 2005, Sharapova đã có một mạch 22 chiến thắng liên tiếp trên mặt sân cỏ (kể cả chiến thắng trong hai trận chung kết Birminghan và Wimbledon). Chuỗi chiến thắng đó chỉ kết thúc khi cô thất bại trước Venus Williams ở trận bán kết Wimbledon 2005. Chuỗi thành tích ấn tượng đó hẳn là một lời thách thức cho người đang đứng đầu bảng xếp hạng WTA Lindsay Davenport.

Chấn thương lưng của Davenport khi chơi ở chận chung kết Wimbledon đồng nghĩa với việc cô không bảo vệ được vị trí dẫn đầu ở WTA mặc dù trước đó cô đã dành được rất nhiều điểm ở giải Mỹ mở rộng. Tuy cũng bị chấn thương và ít hơn một chút điểm so với người dẫn đầu, nhưng Sharapova cũng đã dành được vị trí số một vào ngày 22/8/2005.

Cuộc chạy đua vị trí diễn ra quyết liệt khi Davenport dành lại được ngôi vị sau khi dành danh hiệu New Haven. Đúng một tuần sau, Maria Sharapova soán được ngôi vị này khi đã lọt đến trận bán kết Mỹ mở rộng. Ngôi vị được cô chiếm giữ trong 6 tuần liền sau đó chính thức trở về chủ nhân ban đầu của nó Davenport.

Sharapova một lần nữa thất bại ở bán kết Mỹ mở rộng 2005 trước Kim Clijsters. Điều đó đã nâng số lần thất bại ở Grand Slam trong mùa giải 2005 lên con số 4: bán kết Úc mở rộng - Serena Williams, tứ kết Pháp mở rộng - Justine Henin-Hardenne, bán kết Wimbledon - Venus Williams, bán kết Mỹ mở rộng - Kim Clijsters.

Vận xui tiếp tục theo đuổi cô khi kỷ lục 4 lần thất bại liên tiếp ở Grand Slam bị phá vỡ khi tháng 2/2006 cô thất bại trước Henin-Hardenne ở bán kết Úc mở rộng.

Ngày 18/3/2006, với tư cách là hạt giống thứ ba cô đã dành được danh hiệu đầu tiên trong năm cũng là danh hiệu thứ 11 trong sự nghiệp khi đánh bại hạt giống thứ tư là Elena Dementieva ở trận chung kết Pacific Life Open.

Không lâu sau đó, Maria Sharapova lọt vào trận chung kết Nasdaq-100 và thất bại trước Sventlana Kuznetsova. Sau giải đấu, cô đã dính chấn thương 2 tháng dẫn đến việc rút lui khỏi các giải đấu được tổ chức ở Rome và Istanbul.

Cô quyết định thử sức ở giải Pháp mở rộng mặc dù trước đó cô chưa từng tham dự ở một giải đấu sân đất nện nào. Cuộc phiêu lưu Pháp mở rộng của Sharapova bị chấm dứt bởi Dinara Safina khi hai tay vợt này gặp nhau ở vòng 4.

Sau đó không lâu cô thất bại trong việc dành danh hiệu Birmingham thứ ba khi bất ngờ để thua tay vợt non kinh nghiệm Jamea Jackson ở vòng bán kết. Sharapova đã có được một cuộc trả thù trước tay vợt hạt giống số 1 Kim Clijsters khi dành thắng lợi ở trận chung kết Acura Classic (chiến thắng đầu tiên của Sharapova trong tổng số năm lần gặp Clijsters).

Danh hiệu quan trọng nhất trong năm của cô là giải Mỹ mở rộng ngày10/9 khi đánh bại Justine Henin-Hardenne trong trận chung kết.

thethao.timnhanh
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Sanya Richards

1163491838.jpg


Ngày sinh:
26/02/0985

Nơi sinh:
Kingston, Jamaica

Quốc tịch
Mỹ
Cô sinh ra ở Kingston, Jamaica và theo gia đình sang Mỹ định cư năm 12 tuổi. Năm 2002, khi được 17 tuổi, Richards chính thức trở thành công dân Mỹ. Và cũng trong năm này, cô được bầu chọn là "Nữ vận động viên trẻ xuất sắc nhất trong năm" của các trường trung học Mỹ.

Ba năm tiếp theo, cô đã độc chiếm danh hiệu VĐV trẻ tiêu biểu của nước Mỹ. Không chỉ xuất sắc trên đường chạy, Richards cũng dễ dàng thi đậu vào Trường đại học Khoa học công nghệ ở Texas.

Tại Olympic Athens 2004, cô đã cùng các đồng đội đem về cho đội Mỹ chiếc huy chương vàng nội dung 4x400 tiếp sức nữ. Richards dành được huy chương đồng nội dung 400 tại giải Vô địch điền kinh thế giới năm 2005. Năm 2006, cô đoạt được 15 chiến thắng ở cự ly 100m nữ, trong đó có 6 huy chương vàng ở hệ thống giải Gold League.

Ngày 13/11/2006, Sanya Richards và Asafa Powell vinh dự nhận danh hiệu "Vận động viên điền kinh xuất sắc nhất năm" do IAAF (Liên đoàn Điền kinh Thế giới) trao tặng. Với danh hiệu này cô nhận được một tấm sec trị giá 100.000 USD.

thethao.timnhanh
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Wladimir Klitschko

1163491398.jpg


Ngày sinh:
25/03/0976

Nơi sinh:
Semipalatinsk, Kazakhstan

Quốc tịch
Ukraine
"Người khổng lồ" Wladimir Klitschko (cao 1,98m) bắt đầu nổi lên khi anh đánh bại Paea Wolfgramm trong trận chung kết Olympic 1996 để dành chiếc huy chương vàng môn quyền anh ở hạng cân siêu nặng. Với những cú đấm rất mạnh và nhanh kết hợp với sự di chuyển linh hoạt, Wladimir luôn là sự thách thức đối với các tay đấm hàng đầu trên thế giới.

Một số trận đấu quan trọng trong sự nghiệp của anh

Ngày 14/10/2000 tại Cologne, Đức, Klitschko đã đánh bại tay đấm người Mỹ Chris Byrd dành đai vô địch WBO hạng nặng (người đã dành đai vô địch từ anh trai của Wladimir là Vitali vào tháng 4/2000).

Sau năm lần bảo vệ thành công đai vô địch WBO hạng nặng, Wladimir đã bất ngờ để thua Corrie Sanders vào ngày 8/3/2003 tại Hannover, Đức. Ở trận đấu này Wladimir đã ngục ngã 4 lần trước khi bị knock out vào ván thứ 2.

Ngày 10/4/2004, Lamon Brewster đã đánh bại Wladimir sau 5 ván đấu để dành đại vô địch WBO.

Sau khi đánh bại tay đấm người Mỹ DaVarryl Williamson ngày 2/10/2004 và người chưa từng thất bại Eliseo Castillo ngày 23/4/2005, anh đã hạ gục Samuel Peter vào ngày 24/9/2005 để thống nhất ngôi vô địch IBF và WBO.

Ngày 22/4/2006 tại Mannheim, Đức, Klitschko một lần nữa đánh bại Chris Byrd, đăng quang ngôi vô địch IBF và ngôi vị vô địch IBO hạng nặng đang bỏ trống.

Với những chiến thắng ấn tượng trước Chris Byrd và Samuel Peter, anh được xem là một trong những võ sĩ quyền anh hàng đầu thế giới.

Một chút thông tin thêm về cá nhân Wladimir

Anh đã theo học và dành được học vị tiến sĩ ngành Khoa học thể dục thể thao tại đại học Kiev tháng 1/2001.

Cả hai em nhà Klitschko đều có sở thích chung là chơi cờ nhưng về góc độ quyền anh thì hai người chưa bao giờ thi đấu với nhau trong khuôn khổ một trận đấu nào. Câu hỏi ai là người mạnh nhất giữa hai anh em sẽ không bao giờ có lời giải vì người anh Vitali đã giã từ thi đấu năm 2005.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Vitali Klitschko


Ngày sinh:
19/07/0971


1163403279.jpg

Nơi sinh:
Belovodsk, Kyrgyzstan

Quốc tịch
Ukraine

Ngày 9/11/2005, ở tuổi 34, võ sĩ hùng mạnh người Ukraina quyết định giải nghệ khi còn đỉnh cao. "Tôi hơi buồn, nhưng đây là thời điểm tốt để nói lời chia tay. Tôi sẽ hoàn toàn tập trung cho sự nghiệp chính trị tại quê nhà".

Anh bị chấn thương từ tháng 10/2005 và không kịp bình phục để tham dự trận đấu bảo vệ dai vô địch WBC trước "kẻ thách đấu" là Hasim Rahman vào ngày 12/11/2005. Điều đó khiến Vitali Klitschko mất 7,8 triệu USD tiền thưởng. Anh thổ lộ: "Tôi cũng có thể thi đấu và thua nhanh để nhận thưởng, nhưng tiền không phải là tất cả. Tôi không bao giờ bán mình vì tiền".

Thế nhưng, hậu quả khá tệ cho đối thủ Hasim Rahman. Võ sĩ 32 tuổi người Mỹ đang nợ khoảng 5 triệu USD, sẽ không được nhận 4,2 triệu tiền thưởng từ trận này. Rahman bị sốc khi nghe tin Vitali Klitschko tuyên bố giải nghệ: "Tôi đang luyện tập như điên thì hắn lại bỏ cuộc".

Mặc dù bị người Mỹ chỉ trích là "như con robot", nhưng võ sĩ người Ukraina là một trong những nhà vô địch lớn nhất của quyền anh nhà nghề các năm gần đây. Anh có lối đánh hiệu quả nhờ sải tay dài và cú đấm cực mạnh. Trong sự nghiệp 37 trận, Vitali thắng 35 (trong đó 34 trận thắng knock-out), và chỉ thua 2 - đều do chấn thương giữa giờ buộc phải rút lui.

Lần đầu tiên là khi Vitali bảo vệ đai vô địch WBC năm 2001. Anh dẫn điểm trước Chris Byrd nhưng đến hiệp thứ 9 buộc phải ngừng thi đấu do rách cơ. Đến năm 2003, trong trận thách đấu với ĐKVĐ WBC khi đó là Lennox Lewis, Vitali lại dẫn điểm, nhưng đến hiệp thứ 6 đành phải tung khăn trắng vì rách mắt quá nặng.

Sau đó, Vitali theo đuổi một trận tái đấu với Lewis, tuy vậy võ sĩ người Anh đã tuyên bố giải nghệ, tạo cơ hội để người khổng lồ Ukraina dễ dàng đánh bại Corrie Sanders sau 8 hiệp, và trở lại với ngôi vô địch cho tới nay.

Trong sự nghiệp của mình, Vitali vướng vào một vụ rắc rối. Đó là khi anh bị loại khỏi đội hình dự Olympic Atlanta 1996 do dương tính với chất steroid, mặc dù nó được dùng với mục đích giảm đau. Người thế chỗ Vitali chính là cậu em trai, Vladimir Klitschko, người sau đó đã đánh bại các võ sĩ Mỹ ngay trên sân khách để giành HCV.


thethao.timnhanh.com
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Nikolai Valuev

1163389905.jpg


Ngày sinh:
21/08/0973

Nơi sinh:
Nga

Quốc tịch
Nga

Ngày 17/12/2005 tại Berlin, Nikolay Valuev đã đánh bại người giữ đai kỳ cựu John Ruiz để trở thành quán quân của Hiệp hội quyền anh nhà nghề thế giới (WBA). Đến ngày 3/1/2006, anh đã bảo vệ thành công đai vô địch trước người thách thức là Owen Beck bằng cú nốc ao ngay tại ván thứ ba. Đó là chiến thắng thứ 44 trong sự nghiệp chưa từng nếm mùi thất bại của võ sĩ được các đối thủ đặt cho biệt danh "Quái vật đến từ phương Đông".

Trái với dáng vẻ khổng lồ cực kỳ dữ dằn cùng khuôn mặt lạnh lùng, võ sĩ người Nga khiến nhiều người phải ngạc nhiên về sở thích của mình. "Tôi không giống như con quái vật mà mọi người vẫn nghĩ, mà ngược tôi thực sự rất trầm tính. Thậm chí, tôi từng làm thơ vào những lúc rảnh rỗi trước kia", nhà vô địch tâm sự. "Nhưng thứ khiến tôi cảm thấy thích thú nhất là cảm giác nguy hiểm khi đánh đấm trong môn boxing. Nó như một sự hưng phấn hấp dẫn mà tôi không thể có đủ trong cuộc sống đời thường".

Valuev chào đời trong một ngày hè hơn 32 năm trước, và mang luôn nickname "cậu bé khổng lồ". Càng lớn, anh càng trở nên to cao hơn hẳn so với bạn cùng lứa. Sở thích bóng đá cũng vì thế nhanh chóng được từ bỏ để thế chỗ cho điền kinh. Tuy nhiên, năm 20 tuổi tiếp tục đánh dấu một bước rẽ khi máu "đánh đấm" thực sự làm chủ con người Valuev. Anh đã không lựa chọn sai với chiến thắng đầu tay sau đó chỉ vài tháng, mở đầu cho một sự nghiệp bất bại, mà ưu thế về thể hình là lợi thế quan trọng.

Một nhà báo nước Anh mô tả: "Khi đứng trước bao đấm hay đối thủ trên võ đài, đôi mắt "từng làm thơ" của Valuev bỗng vằn lên và biến anh thành một cỗ máy huỷ diệt". Việc dành được đai vô địch WBA đã đưa Valuev trở thành người hùng thể thao của nước Nga, bên cạnh CLB CSKA Moscow trong năm 2005 (đoạt Cup UEFA - Cup châu Âu đầu tiên của đất nước rộng nhất thế giới), cùng hàng loạt huyền thoại thể thao trong quá khứ như Sergei Bukka (nhảy caO:-), Alexander Popov (bơi)...

Nước Nga đang "sôi" lên vì thành công của Valuev. Khen có, nhưng phê bình cũng chẳng ít, đơn giản vì người hâm mộ đã quá thèm một nhà vô địch boxing từ lâu, trong khi cứ phải chứng kiến cảnh anh em nhà Klitschko của đất nước láng giềng Ukraina thành công liên tiếp. "Tôi có thể chỉ ra hàng đống sai lầm trong phong cách thi đấu của Valuev", một fan tỏ vẻ hiểu biết gào lên khi anh trở lại sàn tập. Tuy nhiên, tất cả các CĐV vẫn chưa tận mắt được chứng kiến hoặc sờ vào đai vô địch hạng nặng của WBA. "Nó quá nhỏ so với bụng tôi. Ban tổ chức đang làm một cái rộng hơn mà tôi chắc có lẽ là duy nhất trên đời", Valuev cho biết.

Hiện tay đấm khổng lồ này đang sống với cô vợ Galya và cậu con trai Grisha ở St Petersburg. Grisha mới 3 tuổi nhưng mang gen bố, trông chẳng khác học sinh lớp một. Đồ chơi ưa thích của Grisha là chú robot cực lớn mà khi ấn nút khởi động nó sẽ tự động nổ tiếng súng và hét lên câu "Nhiệm vụ của ta là hủy diệt tất cả. Ngươi sẽ phải đầu hàng".

Sau khi bất ngờ đánh bại John Ruiz hùng mạnh bằng tính điểm, tay đấm quê ở St Petersburg đã đủ quyền sánh ngang với các nhà quán quân hạng nặng như Hasim Rahman (WBC - hội đồng quyền anh thế giới), Chris Byrd (IBF - liên đoàn quyền anh quốc tế), và Lamon Brewster (WBO - tổ chức quyền anh thế giới). Tuy nhiên, đây mới là giai đoạn đầu trong sự nghiệp thi đấu đỉnh cao của Valuev. Sắp tới, John Ruiz nóng lòng phục thù, cựu vô địch Evander Holyfield muốn thách đấu, và nhất là ba nhà vô địch của các tổ chức quyền anh kia đang nhòm ngó đai WBA, đó mới là những thách thức thực sự cho Valuev.

Theo VnExpress