LEGENDs - Những huyền thoại thể thao thế giới.

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Em back up từ trang cũ qua nhé....mọi người cùng đóng góp nào..........

Thông tin về Andre Agassi

Ngày sinh:29/04/1970

Nơi sinh:
Las Vegas, Nevada, Mỹ

Quốc tịch:Mỹ

Cá Nhân

Cao-Nặng 1,80m-80kg Tay thuận: Phải
Chơi chuyên nghiệp 1986 Nghỉ thi đấu :3/9/2006

Đánh đơn

Thắng/Thua 870/274
Danh hiệu 60
Hạng cao nhất 1 (10/4/1995)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1995, 2000, 2001, 2003)
Pháp mở rộng: vô địch (1999)
Wimbledon: vô địch (1992)
Mỹ mở rộng: vô địch (1994, 1999)

Đánh đôi

Thắng/Thua 40/42
Danh hiệu 1
Hạng cao nhất 123 (17/8/1992)

Olympic

Huy chương vàng Đánh đơn Atlanta 1996


Trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp cầm vợt, Andre Agassi đã để thua tay vợt người Đức Benjamin Becker tại vòng 3 giải Mỹ mở rộng 2006 đồng thời chính thức chấm dứt sự nghiệp 20 năm cầm vợt lẫy lừng của mình với 60 danh hiệu ATP và 8 chức vô địch Grand Slam.

Cho dù trận đấu chia tay không được như mong đợi vì bại trận, nhưng tất cả những người hâm mộ Andre Agassi vẫn nồng nhiệt chúc mừng anh.

Không phải tay vợt được đánh giá là xuất sắc nhất mọi thời đại của làng quần vợt thế giới nhưng Andre Agassi hoàn toàn xứng đáng được giới hâm mộ tôn vinh như một huyền thoại bởi tất cả những đóng góp của anh.

Thuở ban đầu

Sinh ngày 29/4/1970, Agassi đến với quần vợt ngay từ khi còn rất bé. Với mong muốn có một người con thâu tóm cả 4 danh hiệu Grand Slam, ông bố Mike Agassi đã buộc cậu con Andre phải tập quần vợt ngay từ khi mới 2 tuổi. Và dĩ nhiên, đồ chơi của cậu bé Andre khi ấy chỉ có vợt và bóng.

Lúc đó, trung bình mỗi ngày cậu bé phải đánh khoảng 3000 đến 5000 quả. Khi lên 5 Agassi đã tập với các tay vợt chuyên nghiệp, đên năm 14 tuổi cậu bé được gửi vào trung tâm quần vợt nổi tiếng của Nick Bolletieri tại Florida.

Ngay sau khi anh bước chân vào làng quần vợt chuyên nghiệp, Agassi đã nhanh chóng nổi lên là một tay vợt đầy triển vọng. Chỉ sau có 2 năm thi đấu, Agassi đã có trong tay chức vô địch của 7 giải, đó chính là một kỷ lục đối với một tay vợt trẻ.

Bên cạnh những thành tích ấn tượng trên sân đấu, Agassi còn nổi tiếng với cách ăn mặc màu mè, mái tóc dài giống những ca sĩ nhạc rock và chiếc khuyên tai.

Câu khẩu hiệu “hình ảnh là tất cả” mà Agassi quảng cáo cho loại máy ảnh Canon đã trở nên quen thuộc với tất mọi người mỗi khi nhắc đến anh. Cũng chính vì khẩu hiệu này mà Agassi đã từ chối tham dự giải Wimbledon trong suốt khoảng thời gian từ năm 1988 - 1990.

Khi ấy, Ban tổ chức (BTC) giải đấu này đã yêu cầu các tay vợt mặc đồ thi đấu màu trắng còn Agassi lại không chịu vì thích mặc những gì mình thích chứ dứt khoát không theo quy định của BTC. Với hành động này, biệt danh “kẻ nổi loạn” được đặt cho Agassi từ đó.

Trở thành huyền thoại...

Năm 1991, Agassi chấp nhận thi đấu tại Wimbledon và lọt vào vòng tứ kết. Mọi bước ngoặt của Agassi đã đến kể từ năm 1992, khi anh có được danh hiệu Grand Slam đầu tiên trên mặt sân cỏ Wimbledon. Điều này đã khiến giới chuyên môn bất ngờ bởi lối chơi đánh bóng từ cuối sân của Agassi vốn không được đánh giá cao trên mặt sân cỏ.

Khoảng thời gian từ năm 1994 - 1996 quả là đáng nhớ trong sự nghiệp của Agassi. Anh giành chiến thắng tại giải Mỹ mở rộng (1994), Australia mở rộng (1995), giữ ngôi vị số 1 thế giới trong suốt 30 tuần và giành HCV Olympic Atlanta 1996.

Sau đó là những chấn thương cộng thêm tâm lý chia tay với người vợ đầu tiên đã khiến cho Agassi thi đấu xuống phong độ, thậm chí anh còn tụt xuống vị trí thứ 141 trên bảng xếp hạng các tay vợt thế giới. Năm 1998, xuất phát với vị trí 141, Agassi kết thúc năm với vị trí thứ 6 sau khi giành 5 danh hiệu.

Một năm sau, Agassi đi vào lịch sử với tư cách là tay vợt thứ 5 giành cả 4 danh hiệu Grand Slam. Cuối năm 1999, Agassi giành thêm chức vô địch giải Mỹ mở rộng và kết thúc năm với danh hiệu số 1 thế giới.

Sau khi kết hôn với tay vợt cựu số 1 thế giới Steffi Graf và được sự động viên của vợ cùng hai cậu con trai Jaden Gil và Jaz Elle, Agassi đã liên tục giành thắng lợi trong những năm cuối của sự nghiệp.

Cho đến trận đấu gặp tay vợt người Đức tại vòng 3 giải Mỹ mở rộng năm nay, Agassi vẫn muốn tiếp tục kéo dài màn trình diễn của mình, nhưng anh đã không thể làm được điều này và đành chấp nhận thua cuộc trước tay vợt Benjamin Becker.

Anh nói: “Tôi không muốn phải rời sân đấu sớm thế này”. Agass Andre Agassi đã bật khóc khi bước vào phòng thay đồ. Tay vợt người Mỹ đã kết thúc sự nghiệp sau trận đấu thứ 870 của mình.

Trong khi đó, đối thủ của anh ở trận chia tay này cũng hết sức khâm phục Agassi và phát biểu: “Agassi là một tượng đài của quần vợt thế giới. Anh đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp thi đấu và đây là thời điểm không thể nào quên đối với anh ấy. Agassi xứng đáng với những gì mà anh nhận được từ khán giả. Tôi xin chúc anh những điều tốt đẹp nhất và tôi cũng biết rằng anh ấy rất hạnh phúc trong cuộc sống đời thường”.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Martina Hingis
Ngày sinh:30/09/1980

Nơi sinh:Kosice, Slovakia

Quốc tịch:Thụy Sĩ
Cá nhân

Cao-Nặng 1,70m-89kg Tay thuận: Phải
Chơi chuyên nghiệp :1994

Đánh đơn

Thắng/Thua 520/116
Danh hiệu 42
Hạng cao nhất 1 (31/3/1997)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1997, 1998, 1999)
Pháp mở rộng: chung kết (1997, 1999)
Wimbledon: vô địch (1997)
Mỹ mở rộng: vô địch (1997)

Đánh đôi

Thắng/Thua 275/50
Danh hiệu 36
Hạng cao nhất 1 (8/6/1998)


Hingis chơi bóng từ năm cô 2 tuổi và khi lên 4, cô đã bắt đầu chơi ở một giải đấu! Năm 1993, lúc 12 tuổi Hingis đã trở thành tay vợt trẻ nhất thắng một giải Gramd Slam nghiệp dư: giải đơn nữ Pháp mở rộng. Năm 1994, cô tiếp tục dành được danh hiệu này đồng thời dành luôn danh hiệu Wimbledon. Với 2 chiến thắng ấn tượng như vậy, cô đã bước lên hạng cao nhất trong làng quần vợt nghiệp dư.

Hingis chuyển qua chơi chuyên nghiệp vào tháng 10/1994, hai tuần sau sinh nhật lần thứ 14. Năm 1995, cô trở thành cây vợt trẻ tuổi nhất thắng một trận đấu ở Grand Slam khi lọt vào vòng 2 giải Úc mở rộng.

Thành công ở Grand Slam

Năm 1996, lúc 15 tuổi 9 tháng, Hingis trở thành tay vợt trẻ nhất có được chức vô địch ở Wimbledon khi cô cùng Helena Sukova dành danh hiệu nội dung đánh đôi nữ. Danh hiệu chuyên nghiệp đầu tiên mà cô đoạt được là ở Filderstadt, Đức. Cô lọt tới bán kết Úc và Mỹ mở rộng năm 1996 và để thua Steffi Graf sau 5 séc đấu trong trận chung kết WTA Tour Championships.

Hingis đã có được một "mùa thu tuyệt vời" khi đánh bại tay vợt đương kim vô địch Úc mở rộng đồng thời là đương kim số 1 thế giới (cùng hạng với Steffi Graf) Monica Seles trong trận đấu mà cô thắng áp đảo với tỉ số 6-2, 6-0 để dành chức vô địch tại Oakland.

Năm 1997, thế giới chứng kiến "kỷ lục gia" Hingis lập kỷ lục về độ tuổi thành công ở Grand Slam. Tháng 1/1997, cô lập kỷ lục là người trẻ nhất đoạt danh hiệu Grand Slam khi vô địch giải Úc mở rộng lúc 16 tuổi 3 tháng. Tháng 3, người trẻ nhất bước lên ngôi vị số 1 trong bảng xếp hạng thế giới. Tháng 7, tay vợt trẻ nhất vô địch Wimbledon kể từ sau ngày đăng quang của Lottie Dod năm 1887.

Cô kết thúc một năm tuyệt vời bằng chiến thắng ở giải Mỹ mở rộng khi đánh bại một tay vợt đang lên là Venus Williams. Thất bại đáng tiếc nhất chính là thất thủ trước Iva Majoli trong trận chung kết Pháp mở rộng khiến cô không thể thu tóm được 4 danh hiệu Grand Slam trong cùng một năm. Nhưng tất cả đều đó đã là một điều quá tuyệt vời cho một tay vợt mới 16 tuổi.

Năm 1998, Hingis thắng 4 danh hiệu đánh đôi của Grand Slam (Úc mở rộng với Mirjana Lucic, và 3 giải còn lại với Novotna). Trở thành người phụ nữ thứ 3 trong lịch sử giữ đồng thời vị trí số một ở nội dung đánh đơn và đánh đôi.

Cũng trong năm đó, cô dành được danh hiệu Úc mở rộng khi đánh bại Conchita Martinez và để thua Lindsay Davenport trong trận chung kết Mỹ mở rộng. Davenport là người đã kết thúc 80 tuần liên tiếp ở vị trí số 1 nội dung đơn nữ của Hingis vào tháng 10/1998, nhưng Hingis là người kết thúc năm bằng việc đánh bại Davenport trong trận chung kết ATP Tour Championships.

Năm 1999 cô dành tiếp danh hiêu đơn nữ và đánh đôi (với Anna Kournikova) ở Úc mở rộng. Năm đó cô không dành được danh hiệu Pháp mở rộng và Mỹ mở rộng khi liên tiếp để thua Steffi Graf và Serena Williams trong 2 trận chung kết. Kết thúc năm, cô có tổng cộng bảy danh hiệu đánh đơn và dành lại được ngôi vị số 1. Đồng thời vào chơi trận chung kết Chase Championships nhưng để thua Lindsay Davenport.

Kết thúc danh hiệu vô địch Úc mở rộng 3 năm liên tiếp từ 1997-1999 khi cô để thua Davenport ở trận chung kết năm 2000. Mặc dù không dành được danh hiệu Grand Slam nào trong năm nhưng tay vợt người Thuỵ Sĩ này vẫn ở vị trí số 1 do đoạt được 9 danh hiệu bao gồm ATP Tour Championships.

Hingis lần thứ năm liên tiếp lọt vào trận chung kết Úc mở rộng ở năm 2001, cô thất thất bại trước Jennifer Capriati. Sau giải đó cô bị chấn thương mắt cá chân phải và phải nghỉ thi đấu vài tháng

Trở lại sau chấn thương Hingis thắng giải Úc mở rộng ở nội dung đánh đôi đầu năm 2002 (tiếp tục cặp với Anna Kournikova) và đạt tới ngưỡng 6 trận chung kết Úc mở rộng. Tuy nhiên cô lại lần thứ 3 thất bại trong trận chung kết và lần này lại là Capriati.

Tháng 5/2002, cô lại bị chấn thương mắt cá chân và lần này là ở chân trái. Sau sự kiện đó, cô liên tiếp bị chấn thương và không bao giờ lấy lại được phong độ đỉnh cao của mình. Năm 2003, lúc 22 tuổi, cô tuyên bố giã từ sự nghiệp.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Hingis thắng tổng cộng 40 danh hiệu đơn và 36 danh hiệu đôi. Cô đã giữ ngôi vị số 1 thế giới tổng cộng 209 tuần. Năm 2005, Tạp chí Quần vợt đã xếp cô hạng 22 trong tổng số 40 tay vợt vĩ đại nhất.

Tháng 2/2005, Hingis đã có một sự trở lại không thành công khi để thua tay vợt người Đức Marlene Weingartner ở ngay vòng đầu trong một giải đấu được tổ chức ở Thái Lan. Sau thất bại đó, cô cho biết mình phải có kế hoạch lâu dài hơn nữa để chuẩn bị thật tốt cho ngày trở về quần vợt chuyên nghiệp.

Ngày trở lại

Úc mở rộng là giải Grand Slam đầu tiên mà Hingis tham dự khi lần đầu tiên quay lại với quần vợt đỉnh cao vào năm 2006. Cô lọt vào tới tứ kết trước khi để thua hạt giống số hai Kim Clijsters. Tuy nhiên ở giải này, Hingis cùng với tay vợt nam người Ấn Độ là Mahesh Bhupathi thắng giải đôi nam nữ. Với thắng lợi đó đã nâng thành tích Grand Slam của cô lên thành 14 (5 danh hiệu đánh đơn, 9 danh hiệu đánh đôi).

Ngày 19/5/2006, Hingis đã có dịp ăn mừng trận thi đấu thứ 500 trong sự nghiệp của mình bằng chiến thắng ở trận tứ kết giải Ý mở rộng được tổ chức ở Rome và 2 ngày sau thì đăng quang ở giải này. Đó là danh hiệu đơn thứ 41 của cô đồng thời là danh hiệu đơn cô có được sau hơn 4 năm đánh vắng bóng khỏi quần vợt chuyên nghiệp.

Hingis đã nhảy vọt trong bảng xếp hạng của WTA khi bay vào top 10 từ vị trí không có hạng. Cô đã có ba trận chung kết Tier I: đầu tiên là ở Tokyo (thua Elena Demntieva), sau đó ở Rome (thắng Dinara Safina) và ở Montreal (thua Ana Ivanovic). Sau khi quay lại quần vợt đỉnh cao, cô đã đánh bại được các tay vợt mạnh như: Maria Sharapova, Lindsay Davenport, Elena Demetieva và Venus Williams.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Steffi Graf

Ngày sinh:14/06/0969

Nơi sinh:Mannheim, Đức

Quốc tịchĐức

Cá nhân

Cao-Nặng 1,76m-64kg Tay thuận: Phải
Chơi chuyên nghiệp 1982 Nghỉ thi đấu 1999

Đánh đơn
Thắng/Thua 902/115
Danh hiệu 107
Hạng cao nhất 1 (17/8/1987)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1988, 1989, 1990, 1994)
Pháp mở rộng: vô địch (1987, 1988, 1993, 1995, 1996, 1999)
Wimbledon: vô địch (1988, 1989, 1991, 1992, 1993, 1995, 1996)
Mỹ mở rộng: vô địch (1988, 1989, 1993, 1995, 1996)

Đánh đôi

Thắng/Thua 173/72
Danh hiệu 11
Hạng cao nhất 5 (21/11/1988)

Olympic

Huy chương vàng Đánh đơn Seoul 1988
Huy chương đồng Đánh đôi Seoul 1988
Huy chương bạc Đánh đơn Barcelona 1992


Steffi Graf được cha là Peter Graf (sau này huấn luyện viên tennis của cô) tập chơi quần vợt từ lúc 3 tuổi bằng cây vợt gỗ mà sân tập chính là phòng khách của gia đình. Cô bắt đầu ra sân tập lúc lên 4 và chơi ở tham dự các giải đấu từ lúc 5 tuổi. Graf bắt đầu thắng thường xuyên các giải trẻ và đến năm 1982, cô vô địch U12 và U18 Châu Âu.

Graf tham dự giải đấu chuyên nghiệp đầu tiên là vào tháng 10/1982 tại Filderstadt, Đức. Từ khi bắt đầu chơi đầy đủ một mùa giải chuyên nghiệp năm 1983, cô bé 13 tuổi đã xếp hạng 124 thế giới. Trừ chiếc huy chương vàng Olympic 1984 tại Los Angeles, cô không dành được một danh hiệu nào trong vòng ba năm nhưng vị trí của cô trên bảng xếp hạng ngày một tiến bộ: từ hạng 98 năm 1983 đến hạng 22 năm 1984 và hạng 6 năm 1985.

Thời gian biểu của Graf rất nghiêm ngặt và đều được sắp xếp bởi bố của cô. Cô rất ít tham gia các giải thi đấu mà thay vào đó là thời gian dành cho tập luyện. Trung bình một ngày cô tập hơn 4 tiếng đồng hồ. Với cách tập luyện và thi đấu như vậy, tài năng của Graf không sớm nở rộ như các tay vợt tài năng khác mà thay vào đó là sự tiến bộ rất vững chắc.

Tháng 4/1986, Graf đã có được danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp khi đánh bại huyền thoại Chris Evert tại giải thi đấu được tổ chức ở Nam Carolina, Mỹ. Cô tiếp tục dành được 7 danh hiệu trong năm đó và kết thúc năm cô xếp vị trí thứ 3.

Năm 1988 là năm thành công nhất trong sự nghiệp của cô. Bắt đầu bằng danh hiệu Úc mở rộng khi đánh bại Chris Evert. Cô bảo vệ thành công chức vô địch Pháp mở rộng khi nhẹ nhành đánh bại Natalia Zvereva trong một trận đấu chỉ kéo dài 32 phút. Tiếp đến là Wimbledon, nơi mà Navratilova đã giữ chiếc cúp 6 lần liên tiếp từ 1982 đến 1987. Cô hạ ngục Navratilova sau 3 ván đấu và chấm dứt sự thống trị của tay vợt huyền thoại này.

Đánh bại Sabatini trong trận chung kết Mỹ mở rộng, Steffi Graf hoàn tất trọn bộ Grand Slam chỉ trong một năm, (từ trước tới nay chỉ có hai tay vợt làm được điều này là Maureen Connolly-1953, Margaret Court- 1970). Với chiếc huy chương vàng Olympic Seoul 1988, cô trở thành người duy nhất trong lịch sử quần vợt thế giới nhận được danh hiệu "Grand Slam Vàng" (đoạt cùng lúc 4 Grand Slam và chiếc huy chương vàng Olympic môn quần vợt).

Trong sự nghiệp của mình cô đã có 107 danh hiệu đơn (trong đó có 22 danh hiệu Grand Slam, chỉ thua kỷ lục 24 danh hiệu của Margaret Court) và 11 danh hiệu đôi. Graf thắng 7 danh hiệu Wimbledon, 6 Pháp mở rộng, 5 Mỹ mở rộng và 4 Úc mở rộng, là người duy nhất thắng ít nhất 4 danh hiệu Grand Slam mỗi năm. Cô là người duy nhất có được kỷ lục 186 tuần liên tiếp giữ vị trí số một thế gi
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tiger Woods


Ngày sinh:30/12/1975

Nơi sinh:California, Mỹ

Quốc tịch:Mỹ

Tiger Woods là tay chơi golf nổi tiếng nhất từ thời Jack Nicklaus (một tay golf huyền thoại) với 12 danh hiệu vô địch dành được. Từ khi còn nhỏ, Tiger Wood đã được đánh giá là một thần đồng. Anh được bố mình cho chơi gofl từ năm 1 tuổi 9 tháng và trở nên nổi tiếng ngay từ lúc 2 tuổi khi xuất hiện cùng với diễn viên hài Bob Hope trong "The Mike Douglas Show" (một cuộc nói chuyện trên truyền hình).

Woods thắng 3 giải golf nghiệp dư Mỹ liên tiếp (1994-1996) và cùng năm 1996 anh chuyển sang chơi chuyên nghiệp với hợp đồng quảng cáo 40 triệu USD của Nike.

Chiến thắng đầu tiên ở tư cách là một vận động viên chuyên nghiệp là thắng giải Master năm 1997 và liên tiếp là các chức vô địch PGA-1999, Anh mở rộng-2000, Mỹ mở rộng-2000 và là một trong những tay golf hiếm hoi giành được cả 4 chức vô địch trong sự nghiệp thi đấu của mình. Tháng 4/2001, Woods một lần nữa thắng giải Master và trở thành tay golf đầu tiên dành được 4 danh hiệu vô địch trong cùng một lúc (năm 2000 với Mỹ mở rộng, Anh mở rộng, giải vô địch PGA và năm 2001 với giải Master).

Trong 2 năm 1999-2000, anh thắng 6 giải liên tiếp và trở thành người đầu tiên làm được điều đó sau thời kỳ của tay golf Ben Hogan (1948). Tiger Wood đã chấm dứt được thời kỳ vàng son của Nicklaus khi dành chiến thắng ở giải Anh mở rộng năm 2005 (đây là giải đấu cuối cùng trong sự nghiệp của Nicklaus) và dành tiếp chức vô địch này vào năm 2006.

Chúng ta có thể thống kê lại 12 danh hiệu mà Woods đã đạt được: Master (1997, 2001, 2002, 2005), giải vô địch PGA (1999, 2000, 2006), Anh mở rộng (2000, 2005, 2006), Mỹ mở rộng (2000, 2002).


P/s: toàn là bải từ trang cũ của chị Minh Thuận nhé
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Tên : Michael
Quốc tịch Đức
sinh ngày: 3 /1/ 1969
tại Hermülheim, Hürth, Cologne, Đức.
biệt danh là Schumi.
Vợ : Corina
2 con: Ginna Maria và Mick.
Nơi sinh sống :Thụy Sỹ.

Năm thi đấu :1991 – 2006
Các đội đua :Jordan, Benetton, Ferrari
Số chặng :250
Vô địch thế giới: 7 (1994, 1995, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004)
Nhất chặng: 91
Podium: 154

Pole: 68
Fastest Lap: 76
Chặng F1 đầu tiên :GP Bỉ 1991
Chặng thắng đầu tiên :GP Bỉ 1992
Chặng thắng cuối cùng :GP Trung Quốc 2006

Michael Schumacher, tay đua xe người Đức đã 7 lần vô địch thế giới ở hạng đua Công thức 1. Anh sinh ra tại quận Hermülheim, Hürth, gần thành phố Cologne, trong một gia đình nghèo, bố làm thợ xây. Năm 1988, anh bắt đầu tham gia các cuộc đua nhà nghề như cuộc đua ô tô Công thức 3 và được Willi Weber, chuyên gia tìm kiếm tài năng cho hãng Ford, chú ý. Năm 1990, chức vô địch giải Công thức 3 của Đức thuộc về anh. Năm 1991, anh chuyển sang thi đấu hạng Công thức 1 và trở thành thành viên đội đua Jordan tham dự Giải đua ô tô công thức 1 Bỉ. Năm 1992, ở tuổi 23, Michael Schumacher đã giữ vai trò tay lái số một của đội đua Benetton. Năm 1995, Schumacher trở thành tay đua trẻ nhất từng hai lần liên tiếp vô địch thế giới. Từ năm 1996, anh gia nhập đội đua Ferrari và đạt được nhiều thành công lớn: Năm 2000 giành chức VĐTG thứ 3 và là đầu tiên cho Ferrari. Giành liên tiếp 4 chức vô địch sau đó từ 2001 đến 2004. Chức vô địch ấn tượng nhất là vào năm 2004 với 148 điểm (14 chiến thắng chặng, 2 lần nhì và 1 lần thứ 7). Năm 2005 giành vị trí thứ 3. Kết thúc sự nghiệp năm 2006 với ngôi Á Quân.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Lance Armstrong (tên khai sinh: Lance Edward Armstrong, sinh 18 tháng 9, 1971)


là vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp người Mỹ nay đã nghỉ thi đấu. Anh đã lập kỷ lục bảy lần liên tiếp chiến thắng trong cuộc đua Vòng quanh nước Pháp (Tour de France) từ năm 1999 đến 2005. Kỷ lục này của anh được xác lập sau khi anh thực hiện phẫu thuật điều trị ung thư não và ung thư tinh hoàn.

Lance Armstrong sinh ra tại Dallas, Texas, Mỹ. Anh khởi đầu sự nghiệp thể thao như một vận động viên ba môn phối hợp. Năm 17 tuổi, anh được gọi vào tập huấn trong đội tuyển trẻ quốc gia Mỹ, môn đua xe đạp. Sau một thời gian thi đấu nghiệp dư và giành nhiều danh hiệu trong đó có chức vô địch giải đua xe đạp nghiệp dư Mỹ năm 1991, Armstrong chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp. Năm 1993, ở tuổi 22, anh gia nhập đội đua Motorola và có những chiến thắng trong các chặng đua nhỏ ở Tour de France trong vai trò thành viên đội này. Ba năm sau, năm 1996, anh được thông báo từ bác sĩ về bệnh ung thư tinh hoàn, đã di căn lên phổi và não. Sau khoảng thời gian 3 năm tích cực điều trị, anh trở lại thi đấu, giành 7 chức vô địch Tour de France liên tiếp và trở thành một huyền thoại về ý chí chiến thắng bệnh tật.
Bằng ý chí ngoan cường và nghị lực phi thường, Amstrong đã cố gắng vượt qua bệnh tật để chứng minh khả năng tiềm ẩn của con người để làm nên "phép màu Amstrong ". Anh đã và đang tiến hành cuộc vận động phòng chống ung thư “Những vòng đua hy vọng " (Cycle of Hope) nhằm cung cấp đến mọi người những thông tin liên quan đến ung thư, phương pháp trị liệu và thành quả nghiên cứu (có thể tìm hiểu qua mạng cycleofhope.org). Anh đã chiến thắng căn bệnh ung thư quái ác như thế nào và trải qua những đau đớn thể xác để thể nghiệm hạnh phúc thật sự ra sao ? Xin hãy nghe những lời tâm sự của Amstrong.

Có người nói rằng "Làm người phải biết kịp thời hưởng lạc". Lời này nghe qua có lý nhưng kỳ thực không phải vậy. Tôi đã trải nghiệm qua lối sống "kịp thời hưởng lạc” và phát hiện ra rằng: Nếu tôi chỉ có nhu cầu hưởng lạc, chỉ biết hôm nay mà không biết ngày mai thì tôi chắc chắn không thể trở thành một người chồng, người cha xứng đáng được, mà chỉ là một kẻ ăn xổi ở thì, chẳng có gía trị gì. Khi bị ung thư tôi mới hiểu được điểm này. Tôi còn học được rằng: con người muốn sống tốt thì không thể tránh được sự đau khổ, con người phải trải qua đau khổ mới thể nghiệm được hạnh phúc.

Trước khi tôi bi ung thư, có rất nhiều thứ tôi cho rằng có thể đem đến cho tôi sự vui sướng, nhưng khi có được những thứ ấy trong tay rồi thì lại mau chóng chán ngán, chẳng thấy quý gì, thậm chí đem vứt bỏ. Những loại xe cao cấp hiện đại, cà phê thượng hạng cho đến kiểu tóc tôi vốn cho là quan trọng với đời sống của tôi, nhưng rồi chúng mau chóng trở thành đáng ghét và đầu tóc của tôi cũng trở nên ngày một xơ xác hơn.

Năm 25 tuổi, bác sĩ chẩn đoán tôi bị ung thư tinh hoàn giai đoạn cuối, tế bào ung thư đã di căn đến phổi và não. Tôi bán xe hơi, bỏ nghề vận động viên xe đạp cấp quốc tế, tốn rất nhiều tiền và khó khăn lắm mới có thể duy trì mạng sống. Lúc ấy tôi lo lắng suốt mấy tháng. Bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ hai khối u. Vì áp dụng hóa liệu pháp liều cao, da của tôi xuất hiện những vết sẹo giống như bị bỏng. Lúc ấy chỉ cần mỗi lần tỉnh lại là tôi cảm thấy sung sướng lắm rồi.

Sau đó bệnh tình đi vào giai đoạn tạm thời chưa bùng phát, tôi không biết mình còn được sống bao lâu nữa, cũng không chịu nổi giày vò, tôi bắt đầu sống phóng túng, mượn cớ để hưởng lạc. Tôi đi ăn những bữa ăn Mexico thịnh soạn, đi chơi golf, lui tới những nhà hàng nổi tiếng, thưởng thức những món sơn hào hải vị… để rồi về nằm thừ trên xa lông, chẳng thiết gì cả.

Về sau, có hai chuyện làm cho tôi thay đổi. Đầu tiên là một hôm đi ăn tối, Christine, vợ tôi, đặt chiếc nĩa xuống và nghiêm trang nói với tôi: "Anh cũng nên quyết định đi. Tương lai của anh có phải là chuỗi ngày đánh golf, uống bia, ăn tiệc Mexico? Nếu anh quyết định như vậy thì em vẫn yêu anh nhưng em sẽ tự đi tìm việc làm, em không thể sống anh những ngày vô vị như thế này. Em buồn lắm". Tôi nhìn Christine và chợt nhận ra rằng cuộc sống của mình thời gian qua không có mục tiêu, đắm chìm trong phiền muộn và những điều vô bổ. Và tôi hiểu rằng phải làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình (giống như việc cạo râu mỗi buổi sáng), yêu thương người thân trong gia đình, thì sống mới có ý nghĩa. Mấy ngày sau, tôi ngồi trở lại trên chiếc xe đạp đua và lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy sức lực thật sung mãn, tràn đầy lòng quyết tâm và sức chịu đựng.

Chuyện thứ hai là sự ra đời của đứa con trai bé bỏng Luke. Cha tôi đã bỏ tôi ra đi lúc tôi còn chập chững, nên tôi từng thề rằng, nếu có con tôi sẽ tận tâm tận lực chăm sóc nó. Do bị ung thư tinh hoàn nên việc có con của tôi không dễ dàng gì. Trước khi chịu hóa liệu pháp, tôi đã xin lấy và gửi tinh trùng đông lạnh, sau đó phẫu thuật cấy vào Christine để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. May mà cuộc phẫu thuật thành công.

Thai nhi phát triển bình thường, nhưng khi Christine chuyển dạ thì rất khó sinh, thai nhi trong tình trạng nguy hiểm và bác sĩ phải sử dụng dụng cụ trợ sản. Đứa bé ra đời rất nhỏ, toàn thân tái xanh, không khóc, phổi không hoạt động. Bác sĩ lập tức ôm đứa bé từ trong tay Christine đưa vào phòng cách ly để cho thở trong lồng oxy. Christine cứ thều thào: "Xảy ra chuyện gì vậy? Xảy ra chuyện gì vậy? Lúc ấy tôi đứng bên ngoài luôn miệng khấn cầu: "Khóc đi con, cầu xin con đấy, hãy khóc đi !". Lúc ấy chỉ cần nghe được tiếng khóc của con thì tôi có thể làm bất cứ điều gì. Đó là thời khắc đáng sợ nhất trong cuộc đời tôi. Cuối cùng thì bác sĩ cũng nhấc lồng thở oxy ra, đứa bé há miệng, nhăn mặt và phát ra thanh âm chờ đợi "oe". Đó là tiếng khóc của sự sống. Tôi vốn muốn nói với'con tôi rằng con người phải kiên cường mà sống, nhưng vào lúc này thì chính con tôi đã nói ra điều ấy…Bệnh ung thư đã rèn luyện cho tôi, sau khi gắng chịu những đau đớn, lo sợ, tôi trở thành một người đàn ông, người chồng, người cha có lý trí và tình cảm hơn, nguồn hạnh phúc đã tuôn trào.

Sau khi từ bệnh viện trở về,nnhiều đêm tôi bế bé Luke đặt trên ngực mình, mỗi lần nó khóc tôi cảm thấy rất vui. Nó ngửa đầu, rung rung chiếc cằm nhỏ, bàn tay bé xíu quơ vào khoảng không, rồi oà lên khóc rất to. "Đúng, như vậy mới đúng" - tôi nói với con – “Cố lên nhé!".
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Ayrton Senna

sinh ngày 21/3/1960,
tại Sao Paulo, Brazil.
3 lần vô địch thế giới
kỷ lục 65 lần giành pole position (Đã bị Schumi phá năm 2006)
41 lần nhất chặng sau 161 grand prix.

Bắt đầu tập lái xe từ năm 4 tuổi, Senna đã nhanh chóng chứng tỏ năng khiếu của mình qua các giải đua dành cho xe kart. Senna nổi lên từ các giải đua Formula Ford 1600, rồi Formual Ford 2000 và giải F3.

Mùa đông năm 1983, lần đầu tiên Senna được thử tay lái của một chiếc xe đua F1, cùng với đội Williams. Nhưng khi đó, danh sách các đội đua đã đầy đủ và để có thể dự tranh ở mùa giải 1984, Senna đành bằng lòng gia nhập Toleman.

Senna ghi điểm ngay ở chặng đua thứ hai tại Nam Phi. Nhưng trên danh sách xuất phát của GP Monaco, vào tháng 5, chưa mấy người quan tâm đến cái tên lạ lẫm trong nhóm dẫn đầu. Chưa đầy một giờ sau, mọi chuyện đã đổi khác. Senna vượt qua Lauda, nhà vô địch thế giới trong tương lai, tấn công chiếc xe dẫn đầu của Alain Prost và có mặt ở nhóm 3 tay đua về nhất.

Năm 1985, Senna chuyển sang Lotus, đội đua của nước Anh vẫn đang mải mê tìm kiếm lại ánh hào quang cũ, sau khi người sáng lập ra hãng Lotus là Colin Chapman qua đời. Và tại đây, Senna đã lần đầu tiên thắng chặng tại Estoril (Bồ Đào Nha), dưới trời mưa tầm tã. Thành tích lặp lại tại đường đua Spa-Francorchamp (Bỉ).


Hai năm tiếp theo, mỗi năm Senna đều hai lần về nhất một chặng đua. Ngay năm 1988, anh đã chạm tới vầng hào quang khi đánh bại chính Prost. Cả mùa giải năm đó chứng kiến cuộc rượt đuổi giữa hai tay đua mà đỉnh cao là grand prix cuối cùng ở Nhật Bản. Năm 1990, dù thắng 6 chặng, nhiều hơn 2 chặng so với Prost nhưng Senna vẫn phải chịu xếp sau đối thủ người Pháp do chung cuộc anh giành được ít điểm hơn.

Năm 1992, Senna cũng như McLaren phải nhường bước cho đội đua Williams-Renault đang gặt hái nhiều chiến thắng với những bước đột phá về công nghệ. Năm 1993, dù đã rất cố gắng nhưng một lần nữa Senna phải chịu về sau Prost, lúc này khoác áo Williams.

Cuối năm 1993, Senna kết thúc mối duyên tơ với McLaren. Cánh cửa đội Williams mở ra với anh. Williams là đội mạnh nhất thời bấy giờ. Có vẻ như mọi sự đang diễn ra hết sức tốt đẹp. Senna đã sẵn sàng để chinh phục mọi kỷ lục.

Đường đua Imola, 1/5/1994, lần thứ 65 Senna xuất phát đầu đoàn xe ở chặng đua thứ ba mùa giải. Ở vòng 7, khi đang dẫn đầu, chiếc xe của anh đâm thẳng vào tường chắn bê tông ở góc cua mang tên Tamburello. Ayrton Senna chết trong khi còn mang theo lá cờ Australia mà anh dự định sẽ giương cao khi về đích, nhằm tưởng nhớ đến tay đua xứ sở kangaroo là Roland Rozentberg, tử nạn ở vòng phân hạng một ngày trước đó.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Thông tin về Asafa Powell


Ngày sinh:11/11/1982

Nơi sinh:Jamaica

Quốc tịch:Jamaica

Asafa Powell đã từng là một kỹ sư điện trước khi quyết định trở thành một vận động viên điền kinh. Anh trai của Powell là Donovan cũng là một vận động viên điền kinh và lọt tới bán kết giải vô địch thế giới năm 1999. Không giống như nhiều vận động viên khác của Jamaica, Powell đã không chọn di cư sang nước Mỹ để tiến xa hơn trong sự nghiệp mà lại tiếp tục ở lại quê nhà để tập luyện ở Kingston nơi mà anh thường chạy trên cỏ.

Tại Olympic 2004, anh là một trong những ứng cử viên dành huy chương vàng khi về đích ở nội dung 100m với thời gian 9,87 giây (tốc độ nhanh nhất của anh trong năm) . Thật đáng tiếc là anh chỉ đứng thứ 5 ở bảng xếp hạng chung cuộc.

Sau thất bại đó, anh đã tập luyện rất nhiều và đã đoạt được một thành tích tuyệt vời khi lập được kỷ lục 100m thế giới tại Athens ngày 14/6/2005 với thành tích 9,77 giây. Thành tích đó nhanh hơn 0,01 giây kỷ lục trước đây của vận động viên người Mỹ là Tim Montgomery năm 2002 (sau này thành tích của Montgomery bị tước do phát hiện sử dụng doping). Thật trùng hợp khi Powell lập thành tích đó trên cùng một làn chạy với với Maurice Greene lập kỷ lục ở thời gian 9,79 giây năm 1999.

Justin Galtin gần như đã phá vỡ được kỷ lục thế giới của Powell khi anh này kết thúc đường đua với tốc độ 9,76 giây, tốc độ gió 1,7 m/giây. Tuy nhiên theo luật của IAAF, thời gian chạy 9,7660 giây của Galtin được làm tròn là 9,77 giây. Từ ngày 17/5 đến 22/8/2006 Galtin và Powell đã chia nhau kỷ lục 9,77 giây. Nhưng sau này, kỷ lục của Galtin không được công nhận do anh bị phát hiện sử dụng chất kích thích. Vì vậy, hiện nay chỉ có Powell giữ được kỷ lục này.

Powell đã lập lại kỷ lục của mình vào ngày 11/6/2006 tại sân vận động quốc tế Gateshead (tốc độ thực là 9.7629 giây, sức gió là 1,5 m/giây, làm tròn là 9,77 giây). Ngày 18/8/2006, Powell lần thứ 3 lập lại kỷ lục của mình với thời gian là 9,77 giây và tốc độ gió 1,0 m/giây tại đường chạy Zurich, Thụy Sĩ. Anh dành chiến thắng lần thứ 6 trong cùng một năm ở Golden League (nội dung 100m) đoạt được tổng cộng 250.000 USD tiền thưởng.

Cho tới nay, tính tổng cộng ở các giải đấu thì Powell đã có 25 lần chạy về đích dưới 10 giây đứng thứ tư trong các vận động viên có số lần chạy dưới 10 giây nhiều nhất, bao gồm: Frankie Fredericks (27 lần), Ato Boldon (28 lần) và Maurice Greene (52 lần). Nhưng anh hiện tại là vận động viên duy nhất có 3 lần chạy dưới 9,80 giây và cũng là người duy nhất chạy dưới 10 giây 12 lần trong một năm
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Pete Sampras
Ngày sinh: 12/07/1971

Nơi sinh: Washington DC, Mỹ

Quốc tịch Mỹ

Thông tin cá nhân:

Cao 1,85m
Nặng 77kg
thuận tay phải

Chơi chuyên nghiệp 1988 Nghỉ thi đấu 2003

Đánh đơn

Thắng/Thua 762/222
Danh hiệu 64
Hạng cao nhất 1 (12/4/1993)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: vô địch (1994, 1997)
Pháp mở rộng: bán kết (1996)
Wimbledon: vô địch (1993, 1994, 1995, 1997, 1998, 1999, 2000)
Mỹ mở rộng: vô địch (1900, 1993, 1995, 1996, 2002)

Đánh đôi

Thắng/Thua 64/70
Danh hiệu 2
Hạng cao nhất 27 (12/2/1990)

Là con của Sam và Georgia Sampras - những người Hy Lạp di cư sang Mỹ. Khi còn bé, Sampras đã khám phá ra cây vợt tennis trong nhà kho của mình và rất thú vị với nó nên đã trải qua nhiều thời gian để đánh những quả bóng vào tường.

Năm 1978, cả gia đình Sampras di chuyển đến California. Nơi đây có khí hậu ấm áp nên đã tạo điều kiện cho cậu bé 7 tuổi có thể ra ngoài chơi bóng nhiều hơn. Tài năng chơi bóng của Sampras đã thực sự bộc lộ khi cậu tham gia vào CLB quần vợt Peninsula.

Khi mới 11 tuổi, anh ta đã học được cách giao bóng đầy sức mạnh và những cú vô lê chính xác mà những kỹ thuật đó sau này đã làm nên tên tuổi của anh.

Ông Peter Fisher - một bác sĩ khoa nhi và cũng là người yêu tennis cuồng nhiệt - đã phát hiện ra tài năng của Sampras và cũng chính ông là người thầy có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp tennis vẻ vang của cậu học trò mình.

Sampras bắt đầu chuyển sang chơi chuyên nghiệp năm 17 tuổi (1988). Anh dành được danh hiệu đánh đơn đầu tiên vào tháng 2/1990 tại Philadelphia. Tháng 8 cùng năm đó, anh đã tham dự Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp ở giải Mỹ mở rộng và lọt vào đến trận chung kết gặp một tay vợt Mỹ khác là Andre Agassi.

Anh đánh bại Agassi và trở thành tay vợt trẻ tuổi nhất dành danh hiệu vô địch Mỹ mở rộng khi mới 19 tuổi 28 ngày. Kể từ chiến thắng đó về sau, anh và Agassi trở thành kình địch của nhau trong suốt thập niên 1990. Tính tổng cộng, hai người đã gặp nhau 34 trận tron đó Sampras thắng 20 trận còn lại để thua 14 trận.

Sampras dành danh hiệu đầu tiên trong tổng số năm danh hiệu ATP Tour World Championships vào năm 1991. Năm tháng 4/1993, Sampras được xếp hạng 1 thế giới lần đầu tiên. Thành tích đó đã gây nhiều tranh cãi bởi vì vào thời điểm đó, anh chưa dành được danh hiệu Grand Slam nào.

Tuy vậy, Sampras đã chứng minh mình thật sự xứng đáng với ngôi vị số 1 thế giới bằng cách dành danh hiệu đầu tiên ở Wimbledon khi đánh bại cựu số 1 thế giới Jim Courier trong trận chung kết. Kết thúc năm đó, anh dành vị trí thứ nhất tuyệt đối và lập một kỷ lục là tay vợt đầu tiên vượt qua mốc 1000 điểm.

Anh dành được 3 chiến thắng Wimbledon liên tiếp từ năm 1993 tới 1995. Năm 1996 anh bất ngờ để thua Richard Krajicek ở trận tứ kết (người vô địch năm đó). Sau đó, Sampras đã lập một mạch chiến thắng 4 năm liên tiếp từ 1997 tới 2000 trở thành cây vợt thành công nhất trong lịch sử Wimbledon. Chiến thắng năm 2000 đã phá vỡ kỷ lục 12 danh hiệu Grand Slam của Roy Emerson.

Anh thắng liên tiếp 2 danh hiệu Mỹ mở rộng năm 95,96 và đồng thời dành danh hiệu Úc mở rộng 2 lần vào năm 94 và 97. Sở trường của Sampras là thi đấu trên mặt sân cỏ, tuy nhiên điểm yếu cố hữu của Sampras chính là sân đất nện bởi mặt sân này đã làm hạn chế sức mạnh lối chơi lên lưới của Sampras. Thành tích tốt nhất mà anh có được trên sân đất nện là lọt vào trận bán kết Pháp mở rộng năm 1996 .

Sau chiến thắng ở Wimbledon 2000, Sampras liên tiếp 2 năm liền lọt đến tận chung kết Mỹ mở rộng 2001, 2002. Nhưng phải chịu thất bại trước Marat Safin và sau đó là Lleyton Hewitt. Năm 2003, Sampras lần thứ 3 liên tiếp lọt đến trận chung kết Mỹ mở rộng và gặp lại Agassi - người mà anh ta đã gặp trong trận chung kết Grand Slam 12 năm trước.

Agassi là người chứng kiến sự ra đời và sự kết thúc của một huyền thoại. Khi chính 12 năm trước, Agassi thất bại trong trận chung kết Grand Slam đầu tiên của Sampras và nay Agassi lại chịu thất bại trước trận chung kết - cũng là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp quần vợt của Sampras. Chiến thắng đó đã nâng tổng số danh hiệu Grand Slam của anh lên con số kỷ lục 14.

Trong suốt sự nghiệp của mình, Sampras đã dành được 64 danh hiệu đơn (bao gồm 14 danh hiệu Grand Slam và 11 danh hiệu ATP Master Series) và 2 danh hiệu đôi. Anh đã xếp hạng số1 thế giới 286 tuần và 6 lần liên tiếp kết thúc năm với vị trí số 1 từ năm 93 đến năm 98.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Chris Evert


Ngày sinh:
21/12/1954

Nơi sinh:
Florida, Mỹ

Quốc tịch
Mỹ


Cá nhân

Cao-Nặng 1,68m-57kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1972 Nghỉ thi đấu
1989

Đánh đơn

Thắng/Thua 1304/144
Danh hiệu 154

Hạng cao nhất 1 (/11/2075)

Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: 2 lần vô địch (1982, 1984)
Pháp mở rộng: 7 lần vô địch (1974, 1975, 1979, 1980, 1983, 1985, 1986)
Wimbledon: 3 lần vô địch (1974, 1976, 1981)
Mỹ mở rộng: 6 lần vô địch (1975, 1976, 1977, 1978, 1980, 1982)

Đánh đôi

Thắng/Thua 117/39
Danh hiệu 8
Hạng cao nhất ?







Evert bắt đầu tâp luyện tennis lúc 5 tuổi cùng với cha mình là Jimmy Evert (một HLV tennis chuyên nghiệp đã từng đoạt Canadian Championships năm 1947). Năm 1969, Evert trở thành tay vợt nhí số một đứng đầu các tay vợt nhí U14 toàn nước Mỹ.

Năm 1970, tại một giải nhỏ thi đấu trên sân đất nện được ở Charlotte, North Carollina, cô bé 15 tuổi đã đánh bại Margaret Court trong 2 ván 7-6, 7-6 ở trận bán kết. Mọi việc sẽ không lớn lao nếu Court không phải là tay vợt đương kim số một thế giới và vừa mới dành được danh hiệu Grand Slam.

Giải mỹ mở rộng năm 1971 là giải Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp của cô. Với tài năng của mình, mặc dù chỉ mới là lần đầu tiên tham dự nhưng cô đã làm mọi người phải chú ý khi lọt tớii bán kết của giải đấu.

Với lối đánh cuối sân đầy chính xác, sân đất nện là nơi thích hợp với Evert nhất. Tuy nhiên cô đã nhanh chóng thích nghi được với tất cả các mặt sân và còn tỏ ra vượt trội so với các tay vợt khác. Khi bắt đầu tập luyện quần vợt, thân hình của cô rất bé và yếu đến nổi không thể thực hiện các cú đánh trái tay bằng một tay mà phải dùng cả hai tay mới thực hiện được.

Từ đó trở đi cô sử dụng hai tay để đánh những pha bóng như thế và đó là một "thương hiệu" của Evert. Các tay vợt ngày nay đã học hỏi cánh đánh này của cô và sử dụng nó như một phần tất yếu của trận đấu.

Chris Evert thu hút được sự yêu mến của người hâm mộ bằng lối đánh bao sân và những cú trả giao bóng rất đẹp mắt. Ngoài tài năng, cả thế giới lên cơn sốt với vẻ đẹp ngoại hình của tay vợt này.

Cô lọt vào trận chung kết Pháp mở rộng và Wimbledon năm 1973 nhưng đều thất bại ở hai trận đấu này. Năm 1974 Evert đã thực hiện điều mà năm trước cô đã bỏ lỡ khi đăng quang ở hai giải đấu này và có một mạch 55 trận thắng liên tiếp. Cũng trùng hợp khi bạn trai của cô lúc đó là Jimmy Connors cũng vô địch Wimbledon, tạo nên một "cặp đôi vàng" là trung tâm của báo chí suốt mùa hè năm 1974.

Chris hiếm khi đánh đôi nam nữ, nhưng cô vẫn lọt vào chung kết Mỹ mở rộng năm 1974 cùng với bạn trai Connors. Sau giải đấu đó, cô ít khi tham dự các nội dung đánh đôi để tập trung toàn lực vào đánh đơn.

Trong vòng 5 năm tiếp theo, Evert thống trị quần vợt nữ với vị trí số 1 thế giới. Năm 1975, cô tiếp tục vô địch Pháp mở rộng và đánh bại tay vợt 4 lần vô địch Mỹ mở rộng Evonne Goolagong để lần đầu tiên đăng quang ở giải này. Cô tiếp tục thắng Goolagong ở trận chung kết Wimbledon năm 1976. Giữa thập niên 70 thì Evert và Goolagong là hai đối thủ truyền kiếp với 33 lần gặp nhau trong đó 21 lần Evert chiến thắng. Khi thi đấu, dù rơi hoàn cảnh khó khăn hay thuận lợi, Chris Evert đều tỏ ra cực kỳ bình tĩnh trước đối thủ của mình, vì lẽ đó biệt danh "Người phụ nữ băng giá" đã được gán cho cô.

Khi Evonne Goolagong qua thời kỳ đỉnh cao phong độ thì tưởng chừng Evert sẽ bớt được một đối thủ nặng ký, nhưng thay vào đó là một Martina Navratilova đang vươn lên mạnh mẽ. Cả hai đều là bạn tốt ngoài đời nhưng đều là những đối thủ đáng gờm của nhau trên sân đấu, tạo nên một cặp đối thủ-bạn bè nổi tiếng nhất trong lịch sử quần vợt. Nữa cuối thập niên 70 thống trị bởi Chris Evert và thập niên 80 là của Martina Navratilova.

Thành công ở tất cả các mặt sân, nhưng sân đất nện chính là nơi mà Evert thực sự thống trị. Bắt đầu từ tháng 8/1973, cô một chuỗi trận thắng kỷ lục khi hạ gục đối thủ liên tiếp trong 125 trận. Sau trận thua chấm dứt kỷ lục của mình ở giải Ý mở rộng, Evert đã rất buồn: "Không tiếp tục theo đuổi kỷ lục đã giải thoát tôi khỏi một áp lực rất lớn nhưng tôi thật sự không vui vì đều này". Tuy nhiên, cô lại có một chuỗi chiến thắng ấn tượng khác khi liên tiếp bất bại 72 trận trên mặt sân đất nện, thống trị ở giải Pháp mở rộng 3 năm liền và trở thành tay vợt duy nhất trong vòng 5 năm chỉ để thua một trận đấu trên sân đất nện.

Evert giã từ quần vợt chuyên nghiệp năm 1989. Trong suốt sự nghiệp của mình, cô thắng 157 danh hiệu đơn và 8 danh hiệu đôi. Kỷ lục chung kết đơn của cô là 229 trận, trong đó thắng 157 lần. Lọt tới bán kết 273 lần trong 303 giải tham dự. Evert thắng WTA Tour Championships 4 lần và giúp đội Mỹ đoạt Fed Cup 8 lần. Trận đấu cuối cùng mà Evert tham dự là trận thắng 6-3, 6-2 trước Conchita Martinez trong trận chung kết Fed Cup năm 1989.

Evert luôn duy trì được phong độ thi đấu đỉnh cảo của mình, khi luôn dành được ít nhất mỗi năm một danh hiệu Grand Slam đơn liên tục trong 13 năm liên tiếp từ 1974 đến 1986, bao gồm: 7 danh hiệu Pháp mở rộng, 6 Mỹ mở rộng, 3 Wimbledon và 2 Úc mở rộng. Với đối thủ nặng ký của mình là Navratilova, hai người đã gặp nhau 14 lần trong các trận chung kết Grand Slam với 10 trận thắng thuộc về Navratilova.

Evert được bầu chọn là "vận động viên tiêu biểu của năm" 4 lần và được tạp chí Sport Illustrated chọn là "vận động viên nữ xuất sắc nhất" vào năm 1976. Tháng 4/1985, cô được Hiệp hội vân động viên nữ bầu chọn là "Vận động viên nữ xuất sắc nhất trong vòng 25 năm". Evert giữ chức chủ tịch WTA từ 1975-1976 và từ năm 1983 đến năm 1991. Cô được Tạp chí Tennis xếp vào danh sách 40 tay vợt nữ xuất sắc nhất.


TAY VỢT NỮ 18 GRANDSLAM TRONG ĐÓ CÓ CẢ 4 GIẢI ANH, PHÁP, MỸ,

Khiếp thật.

P/s: Em xin nhắc lại nhé/...em back up từ diễn đán cũ qua....đề nghị mọi người tích cực đóng góp nhé..;);)
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Thông tin về Mike Tyson


1164272688.jpg


Ngày sinh:
30/06/1966

Nơi sinh:
New York, Mỹ

Quốc tịch
Mỹ

Hai thập kỷ trước đây, khi ấy Mike Tyson mới 20 tuổi, anh bước lên võ đài với những cú đấm mạnh như trời giáng và khiến đối thủ người Jamaica, Trevor Berbick phải gục ngã ngay ở hiệp 2, để rồi tên tuổi Tyson đi vào lịch sử quyền Anh hạng nặng thế giới với tư cách là chủ nhân trẻ nhất của chiếc đai vô địch WBC (Hội đồng quyền Anh thế giới).

Chiến thắng của Tyson là một cú sốc lặng người của giới mộ điệu quyền Anh Jamaica bởi trước khi thảm bại dưới chân Tyson như vậy, Berbick đã quật ngã tượng đài sống Muhammad Ali trong trận so găng cuối cùng của huyền thoại này để trở thành một nhân vật đáng chú ý trong lịch sử quyền Anh.

Sau trận so găng đáng nhớ đó, Tyson luôn trở thành mối đe doạ cho các đối thủ, anh đã bất bại 27 trận đánh chuyên nghiệp (hầu hết những trận thắng đó đều kết thúc bằng những cú knock-out tàn bạO:-).

Sự nghiệp lẫy lừng là thế, nhưng Tyson cũng để lại nhiều dư vị xấu cho bản thân. Sau trận thua James Douglas trong lần bảo vệ danh hiệu lần thứ 10 vào ngày 10-2-1990 ở Tokyo, cuộc sống trong và ngoài võ đài của Tyson đã từ từ xuống dốc. Năm 1992, anh phải ngồi bóc lịch trong nhà đá 3 năm vì tội cưỡng hiếp một người đẹp 18 tuổi.

Ra tù, Tyson trở lại võ đài năm 1995. Dưới sự hậu thuẫn của ông bầu Don King, Tyson lấy lại hương vị chiến thắng khi đánh bại Frank Bruno (Anh) và Bruce Seldon (Mỹ) năm 1996 để giành lại 2 danh hiệu hạng nặng thế giới. Nhưng trong trận đấu tiếp theo cùng năm đó, Tyson lại để thua Evander Holyfield.

Quá cay cú khi là kẻ “thất trận”, Tyson đã thách một trận tái đấu với Holyfield một năm sau đó. Những tưởng Tyson sẽ giành lại chức vô địch nhưng anh lại gây một scandal động trời cho làng quyền Anh thế giới bằng hành vi cắt đứt mẩu tai của đối thủ. Để rồi, anh phải chịu hậu quả là cấm thi đấu 1 năm. Trở lại năm 1999, Tyson lại gây một scandal tiếp theo: suýt bẻ gẫy cánh tay của đối thủ người Nam Phi, Francois Botha.

Năm 2002, Tyson xuất hiện trên võ đài lần cuối cùng (theo như lời tuyên bố của anh) khi so găng cùng Lennox Lewis (Anh) - người đã bị Tyson “làm nhục” 6 năm về trước và phải trả giá bằng việc để mất đai vô địch của mình vào tay đối thủ, đã dừng Tyson ở hiệp 8 trong trận đấu tranh đai vô địch thế giới. Sau lần thua này, tiếng tăm của Tyson đã dần dần bị lu mờ.

Việc Tyson thượng đài đã khiến giới mộ điệu không còn nghĩ đến những nắm đấm thép của anh ngày nào mà cho rằng, Tyson cố đấm để kiếm tiền. Anh liên tục bị thảm bại một cách nhục nhã trước những tay đấm đàn em ít tên tuổi như Danny Williams hay Kevin McBride. Và chính McBride trong trận so găng ngày 11-6-2005 đã cho Tyson hiểu rằng: anh thực sự đã hết thời và lúc đó Tyson đã chính thức giã từ sự nghiệp: “Tôi không thể làm điều gì hơn được nữa trên võ đài. Đã đến lúc tôi phải chia tay vĩnh viễn”.

Năm 2003, Tyson đã buộc phải phá sản vì nợ nần chồng chất. Giờ đây, anh đang làm bất kỳ việc gì có thể để có tiền trả nợ, thậm chí anh còn đang rất hy vọng được làm “trai bao” tại một quán phục vụ riêng cho các quý bà do Heidi Fleiss - một "Tú bà" nổi danh với giới ngôi sao Hollywood, làm chủ.

Hồi tháng 10 vừa qua, anh đã mở tour du đấu khắp thế giới có tên "Mike Tyson World Tour" để kiếm tiền. Đối thủ mở màn cho lịch trình này của Tyson là Corey Sanders ở Youngstown Ohio. Và tháng 2 năm tới, anh dự định sẽ du đấu tại Anh.

Theo Thể thao Việt Nam
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Thông tin về Kim Clijsters

1162277577.jpg



Ngày sinh:
08/06/1983

Nơi sinh:
Bilzen, Bỉ

Quốc tịch
Bỉ

Cá nhân
Cao-Nặng 1,73m-68kg Tay thuận Phải
Chơi chuyên nghiệp 1999

Đánh đơn
Thắng/Thua 406/98
Danh hiệu 32
Hạng cao nhất 1 (11/8/2003)
Thành tích Grand Slam cao nhất
Úc mở rộng: chung kết (2004)
Pháp mở rộng: chung kết (2001, 2003)
Wimbledon: bán kết (2003, 2006)
Mỹ mở rộng: vô địch (2005)

Đánh đôi
Thắng/Thua 129/49
Danh hiệu 11
Hạng cao nhất 1 (4/8/2003)

Theo Answers - Cập nhật đến ngày 11/9/2006

Clijsters sinh ra trong một gia đình thể thao có bố là Lei Clijsters - một cầu thủ bóng đá nổi tiếng - và mẹ là Els Vandecaetsbeek - vô địch thể dục dụng cụ . Do đó Clijsters đã thừa hưởng được dòng máu thể thao của bố mẹ mình: đôi chân đầy sức mạnh, tốc độ của một cầu thủ bóng đá và sự khéo léo của một vận động viên dụng cụ.

Trước khi bắt đầu chơi chuyên nghiệp, Clijsters đã là một tay vợt trẻ có hạng. Năm 1998, cô dành được một số danh hiệu Grand Slam tổ chức cho các tay vợt trẻ như: á quân Wimbledon nội dung đánh đơn, vô địch Pháp và Mỹ mở rộng nội dung đánh đôi. Kết thúc năm cô xếp vị trí 11 nội dung đánh đôi và vị trí thứ 4 đánh đôi trong bảng xếp hạng của ITF.

Năm 1999, Clijsters chuyển lên chơi chuyên nghiệp. Danh hiệu WTA đầu tiên cô dành được ở Luxembourg, tiêp đó cô dành được danh hiệu đôi WTA ở Bratislava (cặp với Laurence Courtois).

Năm 2001, cô lọt vào trận chung kết Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp của mình ở giải Pháp mở rộng, nhưng đáng tiếc là thất bại trước Jennifer Capriati. Điểm mốc quan trọng trong sự nghiệp của Clijsters là dành được danh hiệu WTA Tour Championships ở Los Angeles cuối năm 2002. Để đoạt được danh hiệu đó cô đã đánh bại cả Justine Henin, Venus Williams và cuối cùng là Serena Williams ở trận chung kết.

Clijster có một mùa giải tốt nhất trong sự nghiệp của mình là vào năm 2003. Cô thắng 9 danh hiệu đánh đơn và 7 danh hiệu đánh đôi (trong đó có danh hiệu đánh đôi ở Pháp mở rộng và Wimbledon). Cô tiếp tục bảo vệ thành công danh hiệu WTA Tour Championships và lọt vào chung kết Pháp và Mỹ mở rộng nhưng đều thất bại trước Justine Henin.

Tháng 11/2003, Clijsters vươn lên vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng 12 tuần trước khi bị mất vị trí vào tay vủa Henin. Cô là tay vợt nữ đầu tiên giữ vị trí dẫn đầu BXH mà không dành được danh hiệu Grand Slam nào.

Clijsters bắt đầu năm 2004 bằng việc lọt vào trận chung kết thứ tư trong sự nghiệp ở giải Úc mở rộng nhưng một lần nữa lại để thua Justine Henin. Trong khi bảo vệ danh hiệu Tier I ở Indian Wells, cô đã bắt đầu có vấn đề chấn thương với cổ tay. Lý do đó đã khiến cô rút lui hầu hết các giải trong năm. Cô chỉ quay lại ở giai đoạn cuối năm và tiếp tục bị chấn thương.

Tháng 2/2005, sau một năm liên tiếp bị chấn thương, cô đã quay lại với các giải đấu của WTA bắng cách tham dự vào giải đấu được tổ chức ở quê nhà Antwerp (thua Venus Williams ở trận tứ kết). Cô đánh dấu sự trở lại của một tay vợt hàng đầu khi cô dành chiến thắng 14 trận liên tiếp để dành 2 danh hiệu Tier I (Indian Wells và Miami) vào tháng 3.

Cuối cùng thì Clijsters đã có được danh hiệu Grand Slam đầu tiên cho riêng mình khi lần lượt hạ Venus Williams, Maria Sharapova và Mary Pierce để dành chức vô địch Mỹ mở rộng. Kết thúc năm 2005 cô dành được 9 danh hiệu đánh đơn và vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng WTA.

Năm 2006, cô lọt vào các trận bán kết Úc mở rộng (thua MauresmO:-), bán kết Wimbledon (thua Justine Henin) và không thể bảo vệ danh hiệu Mỹ mở rộng sau khi rút lui khỏi giải do chấn thương cổ tay. Tính ra trong năm cô mới có 2 danh hiệu đơn ở Warsaw và Stanford. Clijsters hy vọng cô có thể kịp bình phục chấn thương để dành được danh hiệu WTA Tour Championships cuối cùng trong năm.
 

minhthuan

Member
13/4/08
18
0
MUSVN Đồng
0
Points
0
Cái top này ngày xưa mình làm có mấy bài thôi
Cu Schumi làm lại rất gọn và hay
Cập nhập thêm nhiều em nhé
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Dạ..cám ơn chị..cái Top này là của chị đấy chứ ;);););)

Adrian Mutu

fiorentina1cs12.jpg



Ngày sinh:
08/01/1979

Nơi sinh:
Calinesti, Romania

Quốc tịch
Rumani
Tên thật:
Adrian Mutu
Cao / nặng: 1,80m
Vị trí: Tiền đạo/Tiền vệ
CLB:
FC Arges Pitesti (Rumani, 1996 - 1999)
Dinamo Bucuresti ( Argentina, 1999 - 2000)
Inter Milan ( Italia, 2000 - 2002)
Parma ( Italia, 2002-2003)
Chelsea (Anh, 2003 - 2004)
Juventus ( Italia, 2005 - 2006)
Fiorentina (Italia, 2006)
Thành tích:
Cầu thủ xuất sắc nhất Rumani 2005, 2006
VĐ Rumani năm 2000

“Khi lên voi, lúc xuống chó”, cuộc đời của Adrian Mutu đúng y chang với câu tục ngữ đó. Năm 2004, sau khi bị phát hiện dùng cocain, mọi người không tiếc lời dè bỉu anh, thậm chí có người còn phát biểu rằng: Thật xấu hổ khi mang cùng quốc tịch với anh.

Nhưng chỉ 3 năm sau, tức là ở thời điểm bây giờ, năm 2007, Mutu lại được CĐV của Fiorentina tung hô như một người hùng, là linh hồn của đội bóng, rất nhiều CLB đang muốn có chữ ký của anh: Real, Inter, Barca…Anh bị cho là cầu thủ rất thiếu chung thủy với CLB, mới chơi bóng trong khoảng 10 năm mà anh đã chuyển tới 8 CLB.

Nhưng có một điều rất thú vị là hình như anh chỉ thực sự thành công ở những CLB bực trung, như Parma, Fiorentina…còn những gã khổng lồ như Chelsea, Inter hay Juventus thì hình như anh không có duyên. Như ở Juventus chẳng hạn, anh cũng thi đấu tương đối thành công và đang dần trở thành tiền đạo chính của CLB, thì đùng một cái, CLB bị giáng xuống Serie B vì caldan dàn xếp tỉ số và buộc phải bán anh cho Fiorentina.

Hiện nay anh cũng đang là đội phó của đội tuyển Rumania, anh được đánh giá là một trong những cầu thủ Rumani tài năng nhất trong thế hệ của mình. Điều đó được minh chứng với hai lần đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm vào năm 2005 và 2006.

Gia đình có ảnh hưởng đặc biệt tới định hướng nghề nghiệp của anh. Bố mẹ tôi đều là những lập trình viên máy tính, họ không ngăn cản anh thực hiện ước mơ của mình nhưng luôn nhắc anh phải sống thực tế. Vì vậy, Mutu đã tốt nghiệp khoa luật của Rumani. Ngoài ra anh còn thích nghiên cứu lịch sử và từ nhỏ đã rất yêu những vần thơ của Mihail Eminescu. Công việc viết lách, những văn bản giấy tờ... luôn rất quan trọng với anh. Anh có thần tượng là Hagi, như bao câu thủ Rumani khác.

Arges Pitesti

Mutu khởi nghiệp bóng đá của mình ở CLB Arges Pitesti, đội bóng quê nhà của mình. Trận đấu ra mắt chính thức của anh trong màu áo CLB này là vòa ngày 15/07/1997, chống lại CLB Otelul Galati. Trong 2 năm chơi cho CLB này anh ghi được 11 bàn thắng trong 41 trận được ra sân. Với tài năng của mình, anh lọt vào mắt xanh của Dinamo Bucharest, đội bóng lớn nhất của đất nước Rumani, cậu trai tỉnh lẻ Mutu sẽ được vùng vẫy trong biển lớn. Anh chuyển tới Bucharest với giá 760,000USD, vào năm 1999.

Dinamo Buchaest

Đây là bệ phóng cho tài năng của Mutu, giúp anh được các đại gia Châu Âu chú ý. Trong một năm ngắn ngủi chơi cho CLB vĩ đại nhất Rumani, anh cũng kịp để lại dấu ấn của mình với 22 bàn thắng trong 33 trận ra sân, một con số quá ấn tượng. Trong khoảng thời gian này anh còn giúp cho CLB vô địch Rumani. Vì màn trình diễn quá ư thuyết phục đó, đã đẩy anh vào tay của Inter, sau một năm vỏn vẹn làm quen với bóng đá đỉnh cao của Rumani.

Inter Milan

Năm 2000, anh chuyển đến Inter Milan với giá 6,5 triệu bảng, cùng bao khát vọng ở vùng đất mới. Anh muốn được sánh cùng huyền thoại Hagi của mình, một tượng đài của sân San Siro. Nhưng như người ta thường nói, hy vọng càng lớn thì thất vọng càng nhiều, sau 10 trận chơi cho Inter anh không ghi được một bàn thắng nào, với kết quả tồi tệ như vậy, anh đã bị Inter cho CLB Hellas Verona mượn. Ở Verona, anh như tìm thấy được bản năng của mình, trong 32 lần ra sân anh đã ghi được 12 bàn cho CLB, với hiệu suất như vậy anh cũng giúp Inter thu lợi sau khi được CLB Parma dạm hỏi với giá 10 triệu bảng.

Parma

Mùa bóng 2002 -2003 của anh ở Parma có lẻ là mùa bóng đẹp nhất trong cuộc đời cầu thủ của anh, khi anh cùng với chân sút người Brazil Adriano hợp thành cặp tiền đạo sắc bén nhất Serie A, và góp phần quan trọng vào thứ hạng thứ 5 chung cuộc của Parma.

Anh ghi được 18 bàn thắng trong 31 trận khoác áo Parma ở đấu trường Serie A, anh cũng là nhân tố chính giúp CLB được tham dự vòng chung kết UEFA. Để tưởng thưởng cho những thành quả của Mutu đóng góp cho CLB, Parma đã chọn anh để trao băng Đội trưởng đội bóng. Nhưng trước khi có thể làm đội trưởng của CLB thì anh đã ký vào bảng hợp đồng 5 năm với Chelsea. Anh bỏ Parma để đi theo tiếng gọi của danh vọng và tiền bạc.

Chelsea

The Blue phải trả tới 22,4 triệu bảng để có được chữ ký của Mutu, tài năng mới của Rumani. Đó thật sự là một cái giá kỷ lục ở thời điểm đó, 08/2003, nhưng với hầu bao rủng rỉnh của tỷ phú Abramovich, ông chủ mới của Chelsea, là chuyện nhỏ. Anh chơi tạm được trong triều đại của HLV Raineri, người đã đặt biệt danh “Con rắn” cho anh. Khởi đầu mùa bóng, anh ghi được 6 bàn thắng trong 4 trận đấu, một sự khởi đầu như mơ cho một tân binh, và anh lập tức được tung hô ở Stamford Bridge. Nhưng không phải cái gì mở đầu thuận lợi thì sẽ kết thúc thuận lợi, theo sự tiến triển của mùa bóng, bàn thắng đến với anh cực kỳ khó khăn, anh kết thúc mùa giải chỉ với con số 10. Điều này không làm thoả mãn những CĐV và đặc biệt là ông chủ Chelsea - tỷ phú Roman Abramovich.

Bắt đầu một mùa bóng mới, mùa bóng 2004-2005, The Blue cũng có một thuyền trưởng mới, đó là “Mr Special” Jose Mourinho, một HLV siêu cá tính. Dưới thời HLV Mourinho, anh thường xuyên phải ngồi dự bị. Ngoài sân cỏ, anh đã ly dị với cô vợ Alexandra Dimu, vốn là một người dẫn chương trình truyền hình.

Hai hổ không thể ở chung chuồng, Mutu liên tục có những tranh cãi không đáng có với ông thầy mới của mình. Cộng với chấn thương anh mắc phải khi về phục vụ cho đội tuyển quốc gia trong chiến dịch cho WC 2006, thêm scandal về ma túy, anh bị Chelsea sa thải trước thời hạn tới 4 năm( vì hợp đồng sẽ kết thúc vào năm 2008).

Đây chính là vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của Mutu. Còn có ý kiến cho rằng, chính Mourinho đã ra lệnh thử nước tiểu của Mutu một cách bất ngờ. Với tội danh đó, anh bị treo giò trong 7 tháng và bị phạt thêm 2000 Bảng. Án treo giò chỉ được hết hiệu lực vào ngày 18/05/2005. Cũng vì lý do này mà Pepsi đã không ký hợp đồng tài trợ trị giá 1,7 triệu USD với Mutu. Vừa thất nghiệp, vừa bị treo giò, phải chăng đây là cái giá phải trả cho tham vọng vội vàng của anh?!

Juventus

Có lẻ trong cuộc đời cầu thủ của mình, CLB mà anh phải mang ơn nhất chính là Juventus, khi đang ở vũng lầy của những scaldan và thất nghiệp, thì anh đã được Bà đầm gì giang tay cứu vớt. Sau khi bị Chelsea thanh lý hợp đồng trước thời hạn mà anh không nhận được một xu bồi thường nào, anh đã ký một hợp đồng 5 năm với Juventus và họ chấp nhận "nuôi" anh cho đến khi anh kết thúc án phạt treo giò. Ngày 29/05/2005, sau thời gian treo giò, anh đã có lần tái xuất đầu tiên trong trận đấu với Cagliari ở băng ghế dự bị, trong trận đấu này Juventus thắng 4-2.

Trong mùa giải năm sau, 2005/2006, anh ghi được 7 bàn thắng trong 20 lần được ra sân chính thức và 12 trận ra sân trên băng ghế dự bị. Ở Champion League, anh được ra sân 3 lần ở đội hình chính và 5 lần vào sân thay người, anh đã ghi bàn trong trận đấu với SK Rapid Wien. Mặc dù anh không ra sân nhiều trong mùa bóng này, nhưng như vậy là anh cũng đã nhận được sự tín nhiệm của HLV của Juventus lúc đó, Fabio Capello, ông đã cho anh cơ hội tìm lại mình, dù chỉ là ra sân ở băng ghế dự bị. Juventus đã đoạt scudetto ở mùa bóng này.

Nhưng vào đầu mùa bóng mới, Juventus bị giáng xuống Serie B vì dính vào scaldan Calciopoli, hàng loạt ngôi sao tháo chạy khỏi sân Delle Alpi, và Bà đầm già buộc lòng rao bán Mutu, đúng là xui xẻo cho Mutu, khi anh vừa dần hòa nhập với đội bóng.

Mặc dù không còn được thi đấu cho Juventus nữa, nhưng anh luôn biết ơn Bà đầm già vì đã cho anh một điểm tựa trong thời điểm khó khăn. Ngày 07/10/2007, trước trận cầu giữa Fiorentina và CLB cũ Juventus, Mutu đã nói: "Đây là trận đấu đầy ý nghĩa đối với tôi. Ở đây không có sự báo thù nào cả, mà chỉ có sự biết ơn bởi tôi thật sự nợ Juventus".

Fiorentina

Vào 07/08/2006, Fiorentina loan báo là họ đã có được chữ ký của Mutu với giá 8 triệu Euro, số tiền này được trả trong vòng 3 năm. Ở CLB mới này anh tái hợp với HLV cũ của anh ở Parma, Cesare Prandelli. Ở Fiorentina lúc này cũng đang có một tiền đạo đẳng cấp là Luca Toni (lúc này đã chuyển đến Bayer Munich), Mutu đã hợp cùng với Toni và trở thành cặp tiền đạo sát thủ, là nỗi kinh hoàng của các hậu vệ đối phương. Trong mùa bóng 2006/2007 họ đã ghi 32 bàn thắng. Anh nổi lên như một cầu thủ hay nhất mùa bóng, tổng cộng anh đã ghi 16 bàn thắng và kiến tạo 8 bàn thắng trong 33 trận đấu anh khoác áo CLB.

Mùa bóng 2007/2008, sau khi Luca Toni chuyển đến Bayer Munich, anh trở thành linh hồn duy nhất của hàng công Fiorentina, không những vậy anh còn trở thành một thủ lĩnh tinh thần, một biểu tượng của CLB. Đầu mùa bóng anh chơi rất thành công và liên tục ghi bàn.

Vì vậy ở kỳ chuyển nhượng mùa đông tới đây, có rất nhiều CLB muốn có sự phục vụ của anh, như Barca, Real, AC Milan. Và những CĐV Fiorentina rất sợ mất anh, vì anh “được” tiếng là cầu thủ thay CLB như thay áo. Nhưng anh đã cam kết là anh sẽ ở lại, vì ở Fiorentina anh có tất cả những gì mà một cầu thủ mơ ước.

“Ở Florence, tôi được sống trong một gia đình, nơi mà tôi cảm thấy đó là mái nhà che chở cho tôi. Tôi đã thi đấu rất tốt cùng với các đồng đội và tôi thích bầu không khí thành phố này. Bởi vậy, tôi sẽ không đi đâu cả”, Mutu phát biểu.

Đội tuyển quốc gia

Cho đến năm 2007, anh chơi 58 trận cho đội tuyển Rumani, ghi được 27 bàn thẳng. Rumani chỉ thất bại một lần khi anh ghi bàn cho họ. Anh hiện là đội phó của đội tuyển.

"Hasselbaink như con cá mập, Carlton Cole như con sư tử và Adrian Mutu như một con rắn. Khi ngài Abrahimovic bảo tôi đưa ra một danh sách những cầu thủ cần mua, tên của Mutu được đặt lên trên cùng" – HLV Ranieri.
"Adrian thật sắc bén, anh làm tôi nhớ đến Owen. Tốc độ của anh khiến không một hậu vệ nào muốn đối mặt" – tiền vệ Joe Cole.
"Anh ấy còn trẻ nhưng hành động trên sân như một người trưởng thành" – hậu vệ Melchiot.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Alessandro Del Piero

1160358955.jpg



Ngày sinh:
09/11/1974

Nơi sinh:
Conegliano, Ý

Quốc tịch
Ý
Tên thật:
Alessandro Del Piero
Cao / nặng: 1.73m/73kg
Vị trí: Tiền đạo (trái, trung tâm)
CLB:
(1991) Padova > (1993) Juventus
Thành tích:
World Cup (2006)
Champions League (1996)
Intercontinental Cup (1996)
Siêu cúp Châu Âu (1996)
Cúp quốc gia Ý (1995)
Serie A (1995, 1997, 1998, 2002, 2003)
Siêu cúp Ý (1995, 1997, 2002, 2003)
Cầu thủ U21 xuất sắc nhất Châu Âu (1996)
Cầu thủ xuất sắc nhất Intercontinental Cup (1996)
Vua phá lưới Champions League (1997, 1998)
Anh đang là một trong những món quà quý giá nhất mà “chúa” ban tặng cho bóng đá Italia. Một con người hết lòng vì danh dự quốc gia, một con người không thờ hai chủ, dù CLB của anh, Juventus đã xuống Serie B vì scandal. Anh là ai? Anh chính là Alessandro Del Piero, “Hoàng tử nước Ý”.

Alessandro đã được “chúa” ban tặng những kĩ năng qua người tuyệt vời cùng một tầm nhìn chiến thuật hoàn hảo. Dù khởi đầu sự nghiệp ở vị trí tiền đạo cắm nhưng ngay sau đó anh trở thành một tiền đạo hộ công hiệu quả. Khả năng sáng tạo của anh đã được phô diễn dù các HLV áp dụng bất kì sơ đồ chiến thuật nào, cả ở cấp độ CLB hay đội tuyển quốc gia (Juventus hay đội tuyển Italia).

Chào đời ở Conegliano năm 1974, tài năng của Del Piero được khai quật khi anh đang chơi cho đội bóng quê hương San Vendemiano. Ở tuổi 16, anh bắt đầu chinh chiến ở sân chơi chuyên nghiệp trong màu áo Padova, một CLB thuộc Serie B. Chỉ sau 14 trận, tài năng của anh đã lọt vào những con mắt tinh đời của những nhà tuyển mộ hàng đầu của bóng đá Italia, Del Piero gia nhập gã khổng lồ Juventus năm 1991.

Marcello Lippi, một chiến lược gia bậc thầy, người đã có công lớn trong sự nghiệp chói lọi của Del Piero. Ông đã xây dựng một đội bóng lấy anh làm nòng cốt. Trả ơn thầy anh đã đưa Juventus đi hết từ vinh quang này đến vinh quang khác.

Ở mùa bóng 1994/95, ngôi sao trẻ mới nổi Del Piero đã giành danh hiệu scudetto đầu tiên trong sự nghiệp của mình và kể từ đó tới nay anh đã đoạt thêm 6 danh hiệu Italia khác, vinh quang gần đây nhất thuộc về mùa bóng trước, mùa giải anh đã đóng góp tới 14 bàn thắng. Mặc dù chức vô địch Serie A mùa giải 2005/06 đã được trao lại cho Inter nhưng trong trái tim người hâm mộ, nó vẫn gắn với tên anh.

Sự nghiệp của Del Piero không những toả sáng tại sân chơi trong nước mà còn thăng hoa ở đấu trường quốc tế, điển hình là chức vô địch Châu Âu (Champions League) cùng Juventus năm 1996. Cũng trong năm này, Bàn thắng mà “Alexander đại đế” - biệt danh mà giới hâm mộ trìu mến tặng anh, ghi vào lưới River Plate mang chiến thắng về cho “Lão phu nhân” trong khuôn khổ Cúp Liên lục địa ở Tokyo từ một pha đá phạt góc đã được mệnh danh là bàn thắng để đời.

Đến nay, Del Piero đã chơi cho “Bà đầm già” thành Turin hơn 330 trận và mùa giải trước, anh đã trở thành cây ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại trong lịch sử CLB với hơn 180 bàn thắng trên mọi mặt trận.

Ở cấp độ quốc gia, dù chưa bao giờ được đánh giá là một cầu thủ không thể thay thế nhưng những dấu ấn anh để lại trong màu áo thiên thanh là không thể phủ nhận. Alessandro đã ghi 25 bàn thắng trong 70 trận chơi cho đội tuyển quốc gia.

Năm 1998 Del Piero đã dính phải một chấn thương đầu gối nghiêm trọng và nó chính là một bước ngoặt trong cuộc đời “bóng nghiệp” của anh. Khi trở lại, Juventus đã không bỏ rơi anh và kì diệu thay, “đứa con cưng” lại tiếp tục toả sáng. Del Piero đã bền bỉ sát cánh cùng các siêu sao Zinedine Zidane và Filipo Inzaghi, Pavel Nedved và David Trezeguet trong các giai đoạn khác nhau để đem lại thành công cho “Lão bà”.

Kể từ khi Alessandro hồi sinh, dường như Juventus đã tạo nên một kỉ nguyên vàng khác trong lịch sử của mình, liên tục gặt hái các danh hiệu. Tuy nhiên, mọi thứ đã xoay chuyển 180 độ ở mùa bóng trước khi “Những chú ngựa vằn” bị kết tội chủ mưu trong vụ scandal dàn xếp tỉ số lớn nhất Italia. Tổng giám đốc Juve, “bố già” Luciano Moggi, chính là kẻ cầm đầu trong vụ bê bối này.

Thật may cho bóng đá Italia khi đội tuyển quốc gia nước này đăng quang tại sân chơi lớn quốc tế, vô địch WC 2006 trên đất Đức. Del Piero đã có tên trong đội hình đó, và mặc dù không phải là cầu thủ tạo nên nhiều ảnh hưởng nhất nhưng những đóng góp của anh cho thành công của Italia rất đáng trân trọng.

Sau WC, CLB của anh, Juventus đã bị trừng phạt, phải xuống hạng Serie B, Del Piero có thể ra đi nhưng anh đã không làm thế. Trong lịch sử bóng đá khó có một người đội trưởng nào có được một hành động dũng cảm và lòng trung thành như anh.

“Tình yêu đầu tiên mãi mãi là tình yêu bất diệt” và Del Piero sẽ không đành lòng “dứt áo ra đi”, ai có thể rời bỏ CLB đã từng cưu mang mình trong những thời khắc khó khăn nhất trong sự nghiệp. Cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại của Juventus sẽ ở lại để dẫn dắt “Bầy ngựa vằn” trở lại Serie A và sẽ chiếm một vị trí khá trang trọng trong lịch sử hào hùng của Bianconeri.

Và phần thưởng dành cho anh trong tuần này chính là việc được gọi trở lại đội hình Azzurri tham dự vòng loại Euro 2008.

Theo 24h
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Alessandro Nesta

1158734233.jpg



Ngày sinh:
19/03/1976

Nơi sinh:
Rome, Ý

Quốc tịch
Ý
Tên thật:
Alessandro Nesta
Cao/nặng: 1.87m/79kg
Vị trí: Hậu vệ (trung tâm)
CLB:
(1993) Lazio > (2002 - 30,2 triệu EurO:-) Milan
Thành tích:
World Cup (2006)
UEFA Cup (1999)
Siêu cúp Châu Âu (1999, 2003)
Champions League (2003)
Cúp quốc gia Ý (1998, 2000, 2003)
Siêu cúp Ý (1998, 2000, 2004)
Serie A (2000, 2004)
Nesta được cha gửi vào câu lạc bộ Lazio để tập chơi bóng từ năm 9 tuổi. Tại đây, khả năng chơi bóng của Nesta dần được phát triển, anh được chơi thử qua hầu hết các vị trí trên sân và cuối cùng anh cảm thấy vai trò một hậu vệ thích hợp với mình nhất. Năm 1993, anh ký hợp đồng chơi bóng chuyên nghiệp với Lazio.

Sự nghiệp chơi bóng quốc tế của Nesta bắt đầu khi được tham gia vào U15 và U16 Ý. Năm 1996, anh dành chức vô địch U21 Châu Âu khi đánh bại U21 Tây Ban Nha và được chọn là hậu vệ xuất sắc nhất giải. Cùng năm đó, Nesta có trận ra mắt trong màu áo quốc gia khi được ra sân trong trận đối đầu với Moldova. Năm 1997, anh được giao chiếc băng đội trưởng Lazio. Lúc đó, Nesta mới 21 tuổi.

Ngoài những kỹ năng phòng thủ tuyệt vời, Nesta hiện còn là một hậu vệ tấn công rất tốt. Điều đó đã khiến AC Milan phải chết mê và số tiền 30,2 triệu Euro đã được bỏ ra để đem anh về San Siro năm 2002. Với AC Milan, anh đã dành được hầu hết các danh hiệu mà nhiều cầu thủ phải mơ ước: vô địch Serie A, cúp quốc gia Ý, Champions League và Siêu cúp Châu Âu.
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Alexandra Kosteniuk


1161590689.jpg


Ngày sinh:
23/04/0984

Nơi sinh:
Perm, Nga

Quốc tịch
Nga
Nếu như ai đó nói rằng, Anna Kournikova là hoa hậu của làng quần vợt thì Alexandra Kosteniuk lại được xem là nữ hoàng của làng cờ Vua thế giới. Xinh đẹp, lại có tài, cô gái 22 tuổi của nước Nga được mệnh danh là “ Anna Kournikova của bàn cờ”.

Gần đây, trên tờ tạp chí Pethouse Magazine của Mỹ đã liên tục đăng tải hình ảnh của Kosteniuk và có bài viết so sánh tài và sắc của Kournikova và Kosteniuk.


Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, bởi Kosteniuk hơn hẳn người đẹp quần vợt Nga về tài. Trong khi Anna chưa từng giành danh hiệu WTA đơn nào trong suốt sự nghiệp thi đấu, thì Kosteniuk lại giành khá nhiều chiến thắng: VĐ châu Âu 2004, VĐ Nga 2005 và hiện đang là á quân thế giới.

Bên bàn cờ, Kosteniuk không chỉ khiến mọi người hướng mắt tới mình bằng trí tuệ, mà họ còn thích ngắm nhìn cô bởi vẻ đẹp thanh tao.



“Chơi là phải thắng”.



Với đối thủ, Kosteniuk là một tay cờ đáng gờm, cô luôn nhanh nhạy và tìm ra những nước đi đúng trong từng ván cờ. Khi ngồi trước bất kỳ một đối thủ nào, cô luôn quan niệm rằng “Chơi là phải thắng”.



Kosteniuk có tên gọi thân mật là Sasha, sinh ra tại thành phố Perm, nhưng lại theo gia đình đến sống ở Moscow. Chính cha cô - Konstatin Vladimirovich, 1 tay cờ chuyên nghiệp đã đưa cô đến với cờ Vua. Điều bất ngờ đầu tiên ở cô con gái là mới 8 tuổi đã đánh bại cả cha, 10 tuổi cô đoạt chức VĐ thiếu nhi đầu tiên, 14 tuổi đã được phong là Đại kiện tướng.

Triển vọng của Kosteniuk cũng tiến rất xa, cô được đào tạo một cách bài bản ở Khoa Cờ Vua của Viện Văn Hoá - Vật lý Matxcova. Khi đã tự đi trên đôi chân của mình, Kosteniuk vẫn luôn biết ơn người thầy và cũng là cha mình về những ngày đầu tiên ấy.



Đam mê cờ Vua, yêu thích thơ văn



Cờ Vua là niềm đam mê của Kosteniuk nhưng ngoài niềm đam mê từ nhỏ đó, nữ kỳ thủ này còn rất thích thơ văn. Chính vì sự yêu thích này, mà cô đã cho ra đời cuốn sách: “Tôi đã trở thành Đại kỳ thủ cờ Vua ở tuổi 14 như thế nào”.

Cuốn sách được xuất bản bằng 3 tiếng Anh, Nga và Tây Ban Nha. Kosteniuk thực sự hài lòng vì cuốn sách đã chứa đựng tất cả những gì cô đã trải qua, cô tin rằng nó sẽ giúp cho trẻ em cảm nhận được sự tuyệt vời của cờ Vua.



“Tôi không thích bị so sánh”



Đó là câu nói của Kosteniuk khi cô biết mọi người so sánh cô với Kournikova. Không chỉ nổi tiếng bởi tài năng, Kosteniuk còn nổi tiếng khắp nơi ở một khía cạnh khác nữa: Đẹp! Một vẻ đẹp thanh tao, chín chắn, chững chạc, mái tóc đen, mắt nâu, mũi thẳng, nụ cười chúm chím ranh mãnh với vẻ thách thức người đối diện.

Với phong cách ăn mặc rất có gu, điểm trang khá kỹ. Sự xuất hiện của Kosteniuk đã thổi một luồng gió mát vào môn thể thao trí tuệ này. Nhưng cô cũng gặp không ít chỉ trích của những người ưa thích sự trầm tĩnh của môn cờ Vua. Họ cho rằng, chính Kosteniuk đã thị trường hoá môn thể thao này. Nhưng cũng có nhiều người nghĩ khác.


Đại kiện tướng người Anh – Nigel Short trầm trồ thán phục: “Trong cờ Vua, có nhiều người phụ nữ quyến rũ nhưng Kosteniuk đã gây ấn tượng mạnh bởi tài năng của cô ấy. Bất cứ môn thể thao nào cũng cần có những nhân vật nổi tiếng và quyến rũ. Tôi nghĩ, cờ Vua nên quảng bá mình thông qua hình ảnh Kosteniuk”.



Bí quyết chơi cờ của Kosteniuk



“Cờ Vua là môn thể thao phức tạp, bởi nó cần sự phối hợp thể lực với trí tuệ. Để chơi cờ tốt bạn cần tập trung, không được lơ đãng, đặc biệt phải có một tâm lý vững vàng. Tôi luôn xem cờ Vua là một môn thể thao, coi bản thân mình là một VĐV vì thế tôi luôn nỗ lực để chơi cờ thật giỏi.

Mỗi ngày chạy 5km, sau đó miệt mài tập luyện với một loạt HLV đẳng cấp để tìm ra lối đánh riêng cho mình. Điều khó khăn nhất với tôi là phải thi đấu trên máy tính, tôi thích một sự đối đầu giữa hai người hơn là chơi trên Internet.



Giấc mơ của tôi là cờ Vua luôn có tên trong danh sách thi đấu ở TVH Olympic, bởi chỉ có ở đấu trường lớn này thì cả thế giới mới biết được tài năng của tôi. Tôi mong một ngày được chơi với huyền thoại Kosparov. Dù ông ấy đã giải nghệ nhưng ông luôn được xem là Đại kiện tướng cờ Vua số 1 thế giới.

Theo Báo Thể Thao
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Amelie Mauresmo

1158050693.jpg



Ngày sinh:
05/01/1979

Nơi sinh:
St. Germains en Laye, Pháp

Quốc tịch
Pháp
Không tham dự Indian Wells, nhưng Amelie Mauresmo vẫn giành lại được vị trí cao nhất ở bảng xếp hạng WTA, sau 17 tháng. Vinh dự này có được một phần nhờ Kim Clijsters không thi đấu, nhưng không thể phủ nhận nỗ lực của chính tay vợt người Pháp.

Mauresmo bắt đầu giành lại sự chú ý của người hâm mộ kể từ nửa cuối năm 2005, và đỉnh điểm là giải đấu cuối năm WTA Championships, khi chị tiến thẳng một lèo tới trận chung kết và hớt tay trên chiếc Cup vô địch của người đồng hương Mary Pierce.

Nhiều người vẫn nói rằng Amélie Mauresmo luôn đánh mất chính mình vào những thời điểm quan trọng nhất của mỗi trận đấu. Chính vì vậy, chị không phải là người của những danh hiệu lớn. Và sự thật là từng đứng vị trí số một thế giới, nhưng cho tới Australia Mở rộng đầu năm nay, chị mới lần đầu tiên đăng quang ở Grand Slam, sau hàng loạt ngôi á quân trước đó.

Con đường tới quần vợt

Amelie thực sự bị trái bóng nỉ chinh phục từ năm lên 4, khi theo dõi trực tiếp trận chung kết Pháp Mở rộng năm 1983. Nhưng thực tế, cô bé Amelie đã làm quen với cây vợt - món quà sinh nhật của bố mẹ - từ trước đó. Năm 6 tuổi, Amelie được đưa tới CLB quần vợt Bornel với những bài học căn bản.

Ba năm sau, Liên đoàn Quần vợt Pháp (FFT) bắt đầu phát hiện ra tài năng của Amelie và mời chị tham gia chương trình huấn luyện đặc biệt. 11 tuổi, Amelie xác định chắc chắn sẽ trở thành một tay vợt chuyên nghiệp. Năm 14 tuổi, chị gia nhập Học viện quốc gia về đào tạo thể dục thể thao INSEP Vincennes. Ở đó, chị gặp cựu tay vợt số một người Pháp, Gail Lovera.

Chính người này đã truyền cho Amelie niềm hứng thú và bí quyết thực hiện những pha xoáy bóng trái tay kỳ diệu - vũ khí bí mật của chị sau này. Năm 1994, ở tuổi 15, chị bắt đầu luyện tập tại trung tâm huấn luyện quốc gia Roland Garros, và tham dự nhiều giải đấu quốc tế.

Năm 1998 là thời điểm mà Amelie bắt đầu nhận thấy có sự chuyển biến rõ rệt nhất trong sự nghiệp của mình. Thành công lớn đầu tiên của chị là lọt vào vòng chung kết ở Berlin sau những trận đấu loại chói sáng, vượt qua nhiều tay vợt tên tuổi, trong đó có Lindsay Davenport.

Dù bị thua ở trận chung kết trước Conchita Martinez, nhưng kết quả đó đủ để Amelie vươn lên hạng 30 thế giới và có tên trong đội hình Pháp dự Fed Cup. Australia Mở rộng 1999, Amelie bắt đầu khẳng định được vị thế của mình, bắt đầu nổi tiếng khắp nước Pháp. Lại một lần nữa, chị vượt qua Davenport, khi đó vừa chiếm ngôi vị số một thế giới.

Nhưng Mauresmo đã gục ngã ở trận chung kết trước Martina Hingis. "Đó là hai tuần mà tôi không thể quên. Từ đó, tôi cũng nhận thấy rằng mình đang trở thành mối quan tâm của cả thế giới", Mauresmo nói. Những kết quả khả quan liên tiếp sau đó với các tay vợt hàng đầu thế giới khác đã giúp chị lần đầu có mặt trong top 10.

Nhưng một năm sau, Amelie gặp nhiều trở ngại trên con đường sự nghiệp. Một chấn thương nghiêm trọng ở lưng đã làm hỏng tất cả. Chị chỉ về đích ở vị trí thứ 16. Năm 2001, Amelie đã nhanh chóng giành lại những thứ mà chị đáng được nhận. Chị có 4 danh hiệu và điều quan trọng hơn cả là đã qua mặt cả Jennifer Capriati lẫn Martina Hingis.

Năm 2002 tiếp tục là một năm thành công nữa với vài danh hiệu không hề tầm thường. Chị cũng lọt vào 6 trận bán kết các giải đấu, trong đó có Wimbledon và Mỹ Mở rộng. Tại Wimbledon, chị không qua được Serena Williams và tại New York, sau khi hạ Clijsters và Capriati, chị lại vướng vào Venus Williams. Thật không may, khi mùa giải đang đi vào những chặng cuối, chị đã gặp một chấn thương đầu gối và không thể dự giải đấu cuối năm.

Phải cho tới tháng 3/2003, Amelie mới lại xuất hiện và ngay lập tức có mặt ở chung kết Open Gaz trên đất Pháp. Ngay sau đó, chị chiếm ưu thế ở Warsaw, Philadelphia và lọt vào chung kết ở bốn giải liền, trong đó có cả giải đấu cuối năm tại Los Angeles, và chỉ chịu thua Kim Clijsters ở chung kết. Chấn thương vẫn ám ảnh chị, với những rắc rối ở Wimbledon, Pháp và rồi Mỹ Mở rộng. Dù vậy, chị vẫn có 8 chiến thắng ở Fed Cup và là tay vợt quan trọng giúp Pháp vượt qua Mỹ.

2004 sẽ là một năm không thể nào quên đối với Amelie, không chỉ bởi chị giành 5 danh hiệu vô địch, mà còn vì chị đã trở thành tay vợt nữ người Pháp đầu tiên chiếm ngôi vị số 1 WTA và duy trì trong 5 tuần. “Khi biết mình được đứng ở vị trí số 1, tôi đã khóc. Tôi đã chờ đợi khoảnh khắc này từ rất lâu rồi".

Đó chính là phần thưởng vô cùng quý giá cho tôi sau những ngày vất vả". Không chỉ thế, trước đó, Amelie cũng đã giành HC bạc Thế vận hội Athens về cho nước Pháp. Sau khi lọt vào bán kết tại Los Angeles (để thua Serena Williams), Amelie đã quyết định bỏ qua Fed Cup để nghỉ ngơi và chuẩn bị cho mùa giải mới. Và sự chuẩn bị kỹ càng đó đã giúp Amelie có một mùa giải 2005 hơn cả những gì chị chờ đợi.

Chuyện riêng của Amelie Mauresmo

Amelie là người thứ hai trong giới quần vợt nữ, sau Martina Navratilova, thừa nhận mình là người đồng tính. Sau khi tiết lộ bí mật không dễ chia sẻ trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Pháp năm 1999, Amelie đã chịu đựng nhiều "búa rìu" dư luận. Người ta bàn tán về tư cách, về trình độ của chị.

Nhưng một người đại diện cho các nữ VĐV đồng tính đã lớn tiếng bênh vực: "Người ta nghĩ rằng Mauresmo không được phép nói tới những quan điểm trong xã hội về vấn đề giới tính. Thế nhưng, chính chị ấy sẽ khuyến khích những VĐV khác không giấu giếm bản thân.

Mauresmo là hình ảnh của một phụ nữ chín chắn, nhạy cảm, đi lên từ những nỗ lực của bản thân. Điều đó làm cho chị ấy trở thành một mẫu người đáng học tập". Cũng từ đó, Amelie Mauresmo luôn tự tin trước đám đông và cũng quen dần với những lời dị nghị.

Chuyện tương lai

Mauresmo hy vọng một ngày nào đó, khi không còn có thể chơi quần vợt được nữa, chị sẽ làm chủ một quán café thể thao ngay tại thủ đô Paris. Đúng với bản chất của mình, Amelie không mong muốn phải vướng bận vào những nỗi lo lắng của cuộc sống thường nhật.

Chị thích cuộc sống ồn ào và các mối quan hệ xã hội. Amelie muốn thử sức mình trong vai trò một bartender của chính cửa hàng mình, giống hệt như Tom Cruise trong bộ phim Cocktail. Một cựu tay vợt chuyên nghiệp đang là cố vấn cho Mauresmo đã nói đùa: "Nếu bạn có một cơ hội được thưởng thức một sản phẩm cocktail của Amelie, bạn sẽ chết ngất".

Cũng giống như nhiều người Pháp khác, Amelie rất khoái rượu vang, đặc biệt là vang đỏ. Chị đã tập hợp được một hội những người sành rượu và có thể ở hàng giờ trong hầm rượu của mình để ngắm nghía và sắp xếp lại từng chai. Khi ra đường, chị thích tụ tập bạn bè và cùng nhau bàn về rượu.

Ngoài rượu, Amelie còn "khoái" nấu nướng, cho dù chị thừa nhận mình không phải là một đầu bếp cừ. "Cũng có một vài món ăn mà tôi thực sự thích, chẳng hạn như thịt bê ninh với nấm, bánh phomát nướng với jambon do mẹ nấu... và những món ăn khác gợi nhớ lại những chuyến picnic cùng gia đình từ khi tôi còn nhỏ".

Bên ngoài sân, Amelie Mauresmo vẫn không thể quên những thú vui đời thường. Chị thích chơi tất cả mọi thể loại game, cực kỳ hứng thú với các trò cá cược với bạn bè. "Cứ khi nào có thời gian rảnh là tôi và những người đồng hương như Sebastien Grosjean, Arnaud Clement lại chơi bài với nhau. Có cuộc vui kéo dài tới 4 giờ trong một bầu không khí vô cùng căng thẳng".

Theo VnExpress
 

Schumi

(¯°•..Chuyên gia F1..•°¯)
4/4/08
2,106
2
Vũng Tàu
MUSVN Đồng
0
Points
0
Ana Ivanovic

ana.jpg



Ngày sinh:
06/11/0987

Nơi sinh:
Belgrade, Serbia

Quốc tịch
Serbia

Thông tin cá nhân Ana Ivanovic
Chiều cao: 1m86

Cân nặng: 72 kg

Sở trường
: thuận hai tayRight-handed (two-handed backhand)
Chơi chuyên nghiệp: từ tháng 8 năm 2003

Thành tích đạt được

Nội dung đơn:

Vô địch: Trong năm 2007 ở các giải đấu tại Berlin, Los Angeles, Luxembourg; Năm 2006 tại Montreal; 2005 – tại giải Canberra;

Trong năm 2004 tham gia thi đấu ở các giải như: ITF/Mallorca 2-ESP, ITF/Gifu-JPN, ITF/Fukuoka-JPN, ITF/Fano-ITA, ITF/Batumi-GEO.

Vào chung kết: 2007 - Tokyo [Pan Pacific], Roland Garros 2007
Vào bán kết: 2007 - Amelia Island, Wimbledon; 2005 - Warsaw, Zurich, Linz.

Nội dung đôi
Chung kết (1): 2006 tại Hertogenbosch (với tay vợt KirilenkO:-).

Bán kết (2): 2006 - Tokyo [Pan Pacific], Warsaw (với tay vợt KirilenkO:-).

Sinh ngày 6/11/1987 ở Belgrade, năm ra đời của một loạt những ngôi sao quần vợt nữ trẻ trung của thế giới hiện nay như Maria Sharapova, Anna Chakvetadze, Ivanovic bắt đầu thi đấu quần vợt chuyên nghiệp từ năm cô 15 tuổi. Chỉ mất chưa đầy 2 năm, cô đã lọt vào top 20 các tay vợt nữ xuất sắc nhất sau khi có màn ra mắt đầy ấn tượng tại một giải Grand Slam - và đó chính là giải Roland Garros 2005.

Khi ấy, Ivanovic đã lọt vào tới tứ kết sau chiến thắng lịch sử trước Amelie Mauresmo tại vòng 4 và chỉ bị khuất phục bởi Nadia Petrova. Năm 2005 ấy, Ivanovic đã chiến thắng một loạt các tên tuổi lớn trong làng quần vợt nữ, ngoài Amelie Mauresmo còn có Svetlana Kuznetsova, Vera Zvonareva và Nadia Petrova - tất cả đều nằm trong top 10 các tay vợt nữ xuất sắc nhất thế giới khi ấy.

Những cây vợt đến từ Serbia thường hiếm khi che giấu cảm xúc của mình trên sân. Người ta thấy Novak Djokovic hét lên sung sướng mỗi khi ăn được một điểm quan trọng, cũng như thấy anh luôn giận dữ khi mình đánh hỏng. Ivanovic cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.

Sau chiến thắng trước Maria Sharapova tại bán kết Roland Garros năm nay, dường như ai cũng vui lây với cách biểu lộ cảm xúc của cô (ngoại trừ Masha, chắc chắn là vậy rồi!) Tuy thế, khi được yêu cầu nói nhiều về mình hơn một chút trong buổi họp báo sau trận đấu, cô lại trở nên dè dặt và bối rối đáng yêu vô cùng.

Ivanovic chỉ sôi nổi hơn khi cô được nói về niềm đam mê quần vợt của mình. Cô sẽ say sưa kể về cái ngày cô được xem Monica Seles thi đấu qua ti vi, và sau đó đã nằng nặc đòi bố mẹ mua cho một cây vợt. Cô khẽ cười khi nhắc lại những thời kỳ khó khăn, phải đi tránh bom ngay tại thủ đô Belgrade, rồi những kỷ niệm tập đánh tennis trong một bể bơi bỏ hoang, bởi tìm đâu ra một sân tập tiện nghi tại Serbia lúc bấy giờ?

So với ngày đánh bại Amelie Mauresmo cũng chính tại sân Philipe Chatrie này hai năm về trước, Ivanovic đã trưởng thành lên rất nhiều. Cô đã là một trong 10 tay vợt nữ xuất sắc nhất thế giới, và chắc chắn sau khi Roland Garros năm nay kết thúc, thứ hạng của cô còn được tăng lên đáng kể (hiện giờ Ivanovic đang xếp thứ bảy).

Duy có một điều sẽ không bao giờ thay đổi, đó là khát vọng chiến thắng luôn sục sôi trong huyết quản của Ivanovic - cũng như bao tay vợt người Serbia khác. Đối với họ, quần vợt là niềm đam mê cũng như con đường duy nhất để đem lại một tương lai tươi sáng sau những tháng năm gian khổ do cuộc nội chiến gây ra.

Điều này đã được ghi rõ trong hợp đồng của Ivanovic với nhà tài trợ Adidas: nếu như đối thủ của cô cũng là một người của Adidas, Groeneveld sẽ phải ngồi ngoài. Mà ĐKVĐ Justine Henin thì từ lâu đã là một con bài chiến lược của Adidas.

Vẫn biết rằng Henin mới chỉ để thua có 1 trận duy nhất tại Paris kể từ năm 2003 tới nay. Vẫn biết rằng nếu không có sự chỉ đạo của Groeneveld thì Ivanovic sẽ gặp bất lợi rất lớn trong việc chọn chiến thuật thi đấu hợp lý, nhưng từ trước tới nay, đã có vô số những trường hợp, các tay vợt trẻ, khi không có gì để mất đã thi đấu tưng bừng và giành được thắng lợi hết sức thuyết phục.

Những cây vợt người Serbia đã để lại trong lòng người hâm mộ một hình ảnh rất đẹp trong mùa giải Roland Garros năm nay, với việc có tới 3 tay vợt lọt vào tận bán kết (ngoài Ivanovic còn có Jelena Jankovic ở giải đơn nữ và Novak Djokovic tại giải đơn nam). Nhưng hiện giờ, giấc mơ của cả 10 triệu người dân chỉ còn trông vào Ivanovic, và còn gì tuyệt vời bằng khi cơn gió mát Serbia ấy sẽ lại xua tan cái nóng của mùa hè Paris thêm một lần nữa, trong ngày thi đấu hôm nay.

Theo VietNamNet